Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3. CHƯƠNG 5: NANG ỐNG GIÁP LƯỠI VÀ MÔ TUYẾN GIÁP LẠC CHỖ

22 phút đọc

PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng 
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 5. NANG ỐNG GIÁP LƯỠI VÀ MÔ TUYẾN GIÁP LẠC CHỖ

Thyroglossal Duct Cysts and Ectopic Thyroid Tissue
Christopher Fundakowski; Erin Felger; Ellie Maghami
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 5, 50-52


Phôi Thai Học

Mầm trung tâm của tuyến giáp bắt nguồn từ đoạn nội bì ở sàn họng nguyên thủy tại lỗ tịt (foramen cecum), nằm ở đường giữa tại vị trí giao nhau của hai phần ba trước lưỡi (nguồn gốc từ cung mang thứ nhất) và một phần ba sau lưỡi (nguồn gốc từ cung mang thứ ba) (xem Chương 2, Phôi thai học Ứng dụng của Tuyến giáp và Tuyến cận Giáp). Từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 7 của thai kỳ, yếu tố trung tâm này của tuyến giáp tương lai sẽ di chuyển về phía đuôi từ lỗ tịt đến vị trí bình thường của nó bên dưới sụn giáp. Đường đi xuống này liên quan chặt chẽ với xương móng (hyoid bone), thường nằm ở phía trước xương nhưng cũng có thể nằm phía sau hoặc bên trong xương. Mầm tuyến giáp bên có nguồn gốc từ thể mang cùng (ultimobranchial body), một túi thừa đi xuống của túi họng thứ tư đến thứ năm. Thể mang cùng cuối cùng bắt nguồn từ mào thần kinh và mang các tế bào C đến tuyến giáp. Từ tuần thứ 7 đến tuần thứ 10 của thai kỳ, ống biểu mô giáp lưỡi sẽ bị bít lại. Sự thất bại trong việc bít lại ống giáp lưỡi có thể dẫn đến sự hình thành nang ống giáp lưỡi (thyroglossal duct cysts – TGDCs).

Nang Ống Giáp Lưỡi

Trong các loạt báo cáo tử thi, tàn tích ống giáp lưỡi được tìm thấy ở khoảng 7% dân số bình thường. Chúng đại diện cho khối u bẩm sinh đường giữa phổ biến nhất. TGDCs được tìm thấy chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên, nhưng cũng được tìm thấy ở bệnh nhân trên 20 tuổi trong một phần ba số trường hợp (Hình 5.1 và 5.2). Hầu hết các TGDC được tìm thấy giữa xương móng và sụn giáp (khoảng hai phần ba), tại hoặc trên xương móng/trên móng (gần một phần ba), tiếp theo là các vị trí ít phổ biến hơn ở trên ức và đáy lưỡi.

Phương pháp điều trị phẫu thuật tiêu chuẩn cho TGDCs là phẫu thuật Sistrunk (Sistrunk procedure). Thủ thuật này bao gồm cắt bỏ nang, loại bỏ đường ống giáp lưỡi cùng với phần trung tâm của xương móng, và cắt bỏ một lõi trung tâm của đáy lưỡi tại lỗ tịt. Thủ thuật này đã được chứng minh là có tỷ lệ tái phát rất thấp (<4%).

Các Tiếp cận Phẫu thuật Xâm lấn Tối thiểu

Kinh nghiệm về các kỹ thuật phẫu thuật xâm lấn tối thiểu áp dụng cho TGDCs đã gia tăng trong thập kỷ qua. Các phương pháp tiếp cận xâm lấn tối thiểu và tiếp cận từ xa khác nhau đã được mô tả, bao gồm nội soi, nội soi có robot hỗ trợ, đường rạch nhỏ ở cổ với sự hỗ trợ của nội soi, phương pháp căng da mặt cải biên, và tiếp cận qua hai nách-hai vú (bilateral axillo-breast approach – BABA). Các biến chứng bao gồm chảy máu, nhiễm trùng, tổn thương thần kinh, dính lưỡi do mô sẹo, khó nuốt và khó phát âm. Khó nuốt và khó phát âm thường thoáng qua và được khắc phục hiệu quả bởi chuyên gia trị liệu ngôn ngữ. Đối với phần lớn các thủ thuật này, thời gian phẫu thuật tương đương với phẫu thuật Sistrunk mở. Tỷ lệ tái phát thấp với loại thủ thuật này và kết quả có thể so sánh được giữa các nhóm tuổi.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ