Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3. CHƯƠNG 9. PHẪU THUẬT LẠI BỆNH LÝ TUYẾN GIÁP LÀNH TÍNH

71 phút đọc

PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng 
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 9. PHẪU THUẬT LẠI BỆNH LÝ TUYẾN GIÁP LÀNH TÍNH

Reoperation for Benign Thyroid Disease
Mark Sywak; Ruth Prichard; Leigh Delbridge
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 9, 89-89


GIỚI THIỆU

Bệnh lý tuyến giáp được phân loại rộng rãi thành suy giáp (hypothyroidism), cường giáp (hyperthyroidism), các bất thường về cấu trúc tuyến giáp, và tân sinh (neoplasia) của tuyến giáp (xem Chương 6, Phẫu thuật Bướu giáp vùng Cổ và Sau xương ức). Ung thư tuyến giáp là bệnh ác tính tương đối hiếm gặp ở hầu hết các quốc gia, chỉ chiếm 1% tổng số các ca ung thư tại Vương quốc Anh và đứng thứ 11 trong số các loại ung thư thường gặp nhất tại Úc. Ngược lại, bệnh tuyến giáp lành tính, bao gồm bướu giáp nhân lành tính (benign nodular goiter) hoặc bệnh Basedow (Graves’ disease), là một rối loạn nội tiết cực kỳ phổ biến trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến ít nhất 5% đến 7% dân số toàn cầu. Trong số đó, 10% đến 12% sẽ cần can thiệp phẫu thuật ban đầu. Mặc dù mục tiêu điều trị các rối loạn ngoại khoa của tuyến giáp luôn là giải quyết dứt điểm trong một lần phẫu thuật duy nhất, nhưng phẫu thuật lại (reoperation) đối với bệnh lành tính tái phát có thể cần thiết ở tối đa 13% bệnh nhân đã thực hiện thủ thuật ban đầu. Việc quản lý phẫu thuật đối với bệnh tuyến giáp lành tính tái phát đòi hỏi lập kế hoạch trước mổ cẩn trọng và chuyên môn kỹ thuật cao để giảm thiểu các biến chứng phẫu thuật.

Chương này mô tả biểu hiện lâm sàng, quản lý chu phẫu và các chiến lược phẫu thuật giúp phẫu thuật viên đạt được thành công ở những bệnh nhân có bướu giáp nhân lành tính tái phát và bệnh Basedow.

DỊCH TỄ HỌC

Trên toàn thế giới, ước tính có ít nhất 2 tỷ người tiếp tục bị thiếu hụt i-ốt bất chấp những nỗ lực lớn cấp quốc gia và quốc tế nhằm tăng cường lượng i-ốt tiêu thụ. Mặc dù mức độ nghiêm trọng của vấn đề đã được công nhận từ lâu ở các nước đang phát triển, thiếu hụt i-ốt vẫn là vấn đề tồn tại ở Châu Âu lục địa, Vương quốc Anh và ở những khu vực trước đây được cho là đủ i-ốt như Úc và New Zealand. Thiếu hụt i-ốt có liên quan chặt chẽ đến việc tăng nguy cơ mắc bướu giáp nhân không độc (nontoxic nodular goiter).

Can thiệp phẫu thuật cho tình trạng tái phát chiếm từ 5% đến 25% tổng số các ca phẫu thuật tuyến giáp. Trước đây, cắt bán phần tuyến giáp (subtotal thyroidectomy) được xem là tiêu chuẩn trong điều trị ngoại khoa bướu giáp đa nhân, với mục đích giảm tổn thương cho thần kinh thanh quản quặt ngược (recurrent laryngeal nerve – RLN), tránh suy cận giáp và giảm nhu cầu điều trị thay thế hormone tuyến giáp. Nhược điểm của phương pháp tiếp cận bảo tồn này là từ 2% đến 39% bệnh nhân sẽ phát triển bệnh tái phát có ý nghĩa lâm sàng. Tuy nhiên, kể từ đầu những năm 1990, đã có sự chuyển dịch khỏi các phẫu thuật ban đầu mang tính bảo tồn như cắt bán phần tuyến giáp hai bên, và điều này bắt đầu được phản ánh qua việc giảm tỷ lệ tái phát. Không ngạc nhiên khi xu hướng thời gian tái phát kể từ lần can thiệp phẫu thuật đầu tiên ngày càng dài hơn. Tỷ lệ tái phát được ghi nhận tại đơn vị của chúng tôi là 0,32% sau khi thực hiện cắt toàn bộ tuyến giáp (total thyroidectomy) như một phẫu thuật ban đầu.

BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA BƯỚU GIÁP NHÂN TÁI PHÁT

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ