Cẩm nang Hô hấp Can thiệp. Practical Guide to Interventional Pulmonology
Bản quyền (C) 2024 Nhà xuất bản Elsevier.
Ts.Bs. Lê Nhật Huy – Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và chú giải)
CHƯƠNG 10: Đặt Stent đường thở
Stent Placement
A. Christine Argento; Sean B. Smith
Practical Guide to Interventional Pulmonology, 10, 101-111
MỤC LỤC CHƯƠNG
| Giới thiệu Lịch sử Các loại Stent Chỉ định Đặt Stent Đường thở Lập kế hoạch Trước thủ thuật Đặt Stent Kim loại Đặt Stent Silicone Chăm sóc Sau thủ thuật Biến chứng Tóm tắt |
GIỚI THIỆU
Stent đường thở là một bộ phận giả rỗng lòng giúp duy trì sự thông thoáng của đường thở và cung cấp sự nâng đỡ về mặt cấu trúc. Đặt stent là một kỹ năng không thể thiếu của một bác sĩ phổi can thiệp. Các chỉ định và việc lựa chọn stent đường thở thường sẽ quyết định kỹ thuật đặt được sử dụng. Do đó, bác sĩ phổi can thiệp phải thông thạo nhiều kỹ thuật khác nhau tùy thuộc vào bệnh lý cần đặt stent. Trong chương này, chúng tôi sẽ thảo luận về các loại stent, chỉ định và kỹ thuật đặt.
LỊCH SỬ
Từ “stent” được đặt theo tên của Charles Stent, một nha sĩ người Anh đã tạo ra các nẹp nha khoa vào thế kỷ 19. Các stent đầu tiên được Trendelenburg và Bond đặt qua phẫu thuật để điều trị hẹp đường thở và việc đặt stent qua nội soi lần đầu tiên được thực hiện bởi Brunings và Albrecht vào năm 1915. Năm 1965, một loại stent silicone có một nhánh mở ra da ở khí quản đã được Montgomery phát minh, được gọi là ống chữ T (T-tube), để điều trị hẹp hạ thanh môn. Stent silicone đường thở đầu tiên hoàn toàn trong lòng ống được phát triển và mô tả bởi Jean-François Dumon. Stent silicone chính là yếu tố tạo đà cho chuyên ngành phổi can thiệp, vì nó cho phép các bác sĩ chuyên khoa phổi được đào tạo về nội soi phế quản ống cứng xử lý tắc nghẽn đường thở trung tâm. Kể từ đó, stent kim loại cũng đã ra đời.
CÁC LOẠI STENT
Một stent lý tưởng sẽ: (a) dễ đặt và dễ lấy ra, (b) chống di lệch, (c) không hình thành mô hạt, (d) không bị tắc nghẽn bởi dịch tiết, (e) có khả năng tương thích tốt với đường thở của bệnh nhân, (f) có thể tùy chỉnh, (g) có đủ lực hướng tâm để duy trì sự thông thoáng của đường thở, và (h) không đắt tiền. Thật không may, loại stent lý tưởng này (vẫn) chưa tồn tại.
Có hai loại stent chính: kim loại và silicone. Cả hai loại stent đều được sử dụng để xử lý tắc nghẽn đường thở trung tâm. Có nhiều loại stent khác nhau cho mỗi loại chính (Hình 10.1) và mỗi stent có những sắc thái nhỏ giúp bạn lựa chọn loại này thay vì loại khác. Tổng quan cơ bản về so sánh giữa stent kim loại và stent silicone được trình bày trong Bảng 10.1. Một loại stent lai (hybrid) đặc biệt đáng chú ý là stent động (dynamic stent), là một stent silicone phân nhánh được cấu tạo với các thanh chống kim loại ở phía trước của nhánh khí quản và chỉ có silicone ở phía sau để mô phỏng các vòng sụn khí quản và phần màng của khí quản (Hình 10.1H). Stent này được đặt bằng soi thanh quản trực tiếp và một cặp kẹp cứng chuyên dụng. Cuối cùng, còn có các stent hình đồng hồ cát được tạo ra để chống di lệch khi được sử dụng để điều trị đường thở bị hẹp và có lo ngại về việc di lệch stent (Hình 10.1G).

Hình 10.1 Các loại stent khác nhau. (A) Ultraflex được phủ một phần và không phủ. (B) AERO và AEROmini. (C) Bonastent. (D) Stent phân nhánh/chữ Y có phủ. (E) Stent silicone Dumon (thấu quang và cản quang). (F) Stent silicone phân nhánh/chữ Y. (G) Stent hình đồng hồ cát. (H) Stent chữ Y động.
Bảng 10.1 So sánh Stent Kim loại và Silicone
| Đặc điểm | Stent Kim loại (Có phủ hoặc Không phủ) | Stent Silicone |
|---|---|---|
| Đặt bằng ống soi mềm | Có | Không |
| Đặt bằng ống soi cứng | Có | Có |
| Hình thành mô hạt | Có (ở các đầu) | Có |
| U mọc vào trong | Có (loại không phủ) | Không |
| Di lệch | Hiếm khi | Có |
| Gãy | Có | Rất hiếm |
| Nhiễm trùng | Có | Hiếm khi |
| Thủng đường thở | Hiếm khi | Rất hiếm |
| Tắc nghẽn do chất nhầy | Hiếm khi | Có |
| Có thể điều chỉnh | Không | Có |
| Có thể định vị lại | Ngay lập tức – có; Sau đó – không | Có |
| Dễ đặt | Dễ | Yêu cầu chuyên môn về nội soi phế quản ống cứng |
| Tương thích với đường thở cong | Có | Không |
| Tỷ lệ đường kính trong/ngoài | Cao | Thấp |
| Độ bền/Lực hướng tâm | Trung bình | Cao |
| Thanh thải nhầy-lông chuyển | Không phủ – có; Có phủ – không | Không |
| Chi phí | Cao hơn | Thấp hơn |
CHỈ ĐỊNH ĐẶT STENT ĐƯỜNG THỞ
Stent đường thở được đặt khi bệnh nhân có các triệu chứng hô hấp và có các dấu hiệu trên hình ảnh học phù hợp với tắc nghẽn đường thở khu trú (Bảng 10.2). Mức độ tắc nghẽn phải có khả năng giải thích được các triệu chứng của bệnh nhân. Thông thường, đường kính đường thở phải giảm 50% thì các triệu chứng mới xuất hiện. Nhìn chung, đường kính khí quản từ 8 mm trở xuống là cần thiết trước khi bệnh nhân bị khó thở khi gắng sức, và đường kính khí quản dưới 5 mm sẽ dẫn đến khó thở khi nghỉ ngơi. Quan trọng là, các đường thở ở phía xa khu vực đặt stent cần phải thông thoáng để việc đặt stent có hiệu quả; điều này đôi khi có thể được xác định bằng hình ảnh học nhưng thường phải được đánh giá trong quá trình nội soi phế quản. Stent đường thở có thể đặc biệt hữu ích ở những bệnh nhân ung thư phổi, trong đó 30% có biểu hiện tắc nghẽn đường thở và 35% sẽ tử vong do ngạt thở, ho ra máu hoặc viêm phổi sau tắc nghẽn. Trong một nghiên cứu đăng ký đa trung tâm lớn với 1115 thủ thuật trên 947 bệnh nhân trải qua nội soi phế quản điều trị tắc nghẽn đường thở trung tâm, một phần ba số bệnh nhân đã được đặt stent đường thở, điều này có liên quan đến việc cải thiện khả năng đạt được sự thông thoáng của đường thở. Điều thú vị là, những bệnh nhân có mức độ khó thở ban đầu cao hơn (thang điểm Borg) và tắc nghẽn không ở thùy phổi đã có sự cải thiện lớn hơn về khó thở và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe. Ngoài ra, những bệnh nhân có điểm ASA (Hội Gây mê Hoa Kỳ) cao hơn và tình trạng chức năng thấp hơn cũng có sự cải thiện lớn hơn về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe. Đáng chú ý, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã ban hành cảnh báo hộp đen về việc sử dụng stent kim loại không phủ trong khí quản để điều trị tắc nghẽn khí quản lành tính vào năm 2005. Tiêu chuẩn chăm sóc hiện tại là điều trị tắc nghẽn khí quản lành tính bằng stent silicone hoặc stent kim loại được phủ hoàn toàn. Fortin và các đồng nghiệp đã xem xét hồ sơ của 30 bệnh nhân được đặt stent kim loại thế hệ thứ ba được phủ hoàn toàn trong đường thở trung tâm vì hẹp đường thở lành tính và thấy rằng 50% phải được lấy ra do biến chứng sau trung bình ngày, số còn lại được lấy ra sau ngày mà không có biến chứng. Tỷ lệ thành công lâm sàng của điều trị bằng stent là 40.7% và không có trường hợp tử vong nào liên quan đến stent được báo cáo.
Bảng 10.2 Chỉ định cho Stent Kim loại và Silicone
| Chỉ định | Kim loại | Silicone |
|---|---|---|
| U khí quản | Có | Có |
| U phế quản ở đường thở trung tâm | Có | Có |
| Đường thở nhỏ có khối u | Có | Không |
| Nhuyễn sụn/EDAC* | Đôi khi | Có |
| Rò khí quản-thực quản | Không | Có |
| Hở miệng nối | Có | Hiếm khi |
| Chèn ép từ bên ngoài | Có | Có |
| Hẹp khí quản lành tínhª | Không | Có |
ªĐiều này có thể bao gồm các tình trạng vô căn, tổn thương do hít phải, sau mở khí quản, sau đặt nội khí quản, và các bệnh tự miễn (ví dụ: sarcoidosis, u hạt với viêm đa mạch, hoặc lupus ban đỏ hệ thống).
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ