Cẩm nang Hô hấp Can thiệp. Practical Guide to Interventional Pulmonology
Bản quyền (C) 2024 Nhà xuất bản Elsevier.
Ts.Bs. Lê Nhật Huy – Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và chú giải)
CHƯƠNG 18. MỞ KHÍ QUẢN QUA DA
Percutaneous Tracheostomy
Tenzing Phanthok; Crystal Ann Duran; Shaheen Islam
Practical Guide to Interventional Pulmonology, 18, 193-206
MỞ ĐẦU
Thuật ngữ “Tracheostomy” (mở khí quản) có nguồn gốc từ tiếng Latin “trachea arteria” và “ostium”, có nghĩa là “tạo một lỗ mở ở khí quản”. Ghi nhận sớm nhất về mở khí quản là mô tả về việc chữa lành một vết rạch ở cổ trong kinh Rig Veda. Hippocrates đã mô tả việc đặt ống nội khí quản để hỗ trợ thông khí. Mở khí quản để giải quyết tắc nghẽn đường thở trên lần đầu tiên được đề cập trong chữ tượng hình bởi Imhotep. Ca mở khí quản thành công đầu tiên được ghi nhận do Antonio Brassavola thực hiện vào năm 1546 trên một bệnh nhân bị tắc nghẽn do amidan. Năm 1620, Nicolas Habicot đã hồi sức thành công một cậu bé ban đầu được tuyên bố đã chết sau khi bị một vết đâm ở cổ, bằng cách mở khí quản cấp cứu và lấy bỏ cục máu đông trong khí quản. Năm 1833, Trousseau đã cứu sống hơn 200 bệnh nhân bạch hầu bằng cách thực hiện mở khí quản.³
Các kỹ thuật mở khí quản hiện nay bao gồm mở khí quản phẫu thuật (Surgical Tracheostomy – ST) và mở khí quản qua da bằng phương pháp nong (Percutaneous Dilational Tracheostomy – PDT).
ST thường được thực hiện trong phòng mổ dưới gây mê toàn thân và bao gồm việc phẫu tích các mô ở cổ để tạo một lỗ mở (stoma). Ngược lại, trong PDT, một cây kim được đưa vào qua da, sau đó sử dụng kỹ thuật Seldinger cải tiến, một lỗ mở được tạo ra bằng cách nong rộng.
PDT có kích thước vết rạch nhỏ hơn, thời gian thủ thuật ngắn hơn, ít chảy máu sau phẫu thuật hơn và thời gian lành thương nhanh hơn so với ST. Một số phân tích gộp và thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) so sánh ST và PDT cũng đã xác nhận rằng PDT có liên quan đến thời gian phẫu thuật ngắn hơn đáng kể, chi phí thấp hơn, tỷ lệ chảy máu trong và sau mổ thấp hơn, thời gian dùng thuốc an thần ngắn hơn, quá trình lành vết thương nhanh hơn và nguy cơ nhiễm trùng lỗ mở thấp hơn. Tuy nhiên, không có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong giữa ST và PDT.⁵⁻⁹
Trong chương này, chúng tôi sẽ chủ yếu tập trung vào PDT trong môi trường đơn vị chăm sóc tích cực (ICU).
KỸ THUẬT MỞ KHÍ QUẢN PHẪU THUẬT
ST lý tưởng nhất được thực hiện trong phòng mổ dưới gây mê toàn thân, mặc dù ST cũng có thể được thực hiện tại giường. Các mốc giải phẫu cần được xác định trước khi mổ, bao gồm sụn giáp, sụn nhẫn và hõm ức. Thuốc tê tại chỗ với 1% lidocaine có epinephrine được tiêm thấm tại vị trí rạch nếu không thực hiện dưới gây mê toàn thân. Một đường rạch da ngang dài 2-3 cm được thực hiện cách sụn nhẫn khoảng một centimet về phía dưới. Xác định đường giữa (midline raphe) và dùng banh phẫu thuật để kéo các cơ dưới móng sang hai bên nhằm bộc lộ khí quản. Ống nội khí quản (Endotracheal Tube – ETT) được rút nhẹ lên để tạo điều kiện cho việc tạo lỗ mở. Một đường rạch được thực hiện ở khoảng gian sụn giữa vòng sụn khí quản thứ nhất và thứ hai và được mở rộng sang hai bên. Các mũi khâu chờ (stay sutures) được đặt xuyên qua da, vòng quanh vòng sụn khí quản, và sau đó quay trở lại qua da.¹⁰ Thường thì một vạt Bjork được tạo ra. Ống mở khí quản (Tracheostomy Tube – TT) sau đó được đặt qua lỗ mở khí quản, bóng chèn (cuff) được bơm căng, và kết nối với hệ thống máy thở. Ống mở khí quản được cố định bằng các mũi khâu vào cổ và việc thông khí sau đó được chuyển từ ống nội khí quản sang ống mở khí quản.
CÁC LOẠI MỞ KHÍ QUẢN QUA DA BẰNG PHƯƠNG PHÁP NONG
Kỹ thuật mở khí quản đầu tiên được mô tả vào năm 1955 yêu cầu một cây kim đặc biệt để đi vào khí quản và bao gồm việc đưa ống mở khí quản vào một thì bằng cách sử dụng một trocar có lưỡi cắt.¹¹
Mở khí quản qua da đã được cải tiến qua nhiều năm. Kỹ thuật Ciaglia, được giới thiệu vào năm 1985, là một trong những kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất ở Bắc Mỹ.¹², ¹³ Năm 1990, kẹp nong theo dây dẫn (guidewire dilating forceps – GWDF) của Griggs được phát triển, trong đó một chiếc kẹp đặc biệt được luồn qua dây dẫn vào khí quản, và một lỗ mở khí quản được tạo ra bằng cách mở kẹp.¹⁴ Năm 1997, Fantoni và Ripamontis đã mô tả phương pháp qua thanh quản (translaryngeal method), trong đó ống nong và ống mở khí quản được kéo ngược dòng qua lỗ mở. Một kỹ thuật nong đơn khác được gọi là PercuTwist, do Frova và Quintel phát triển vào năm 2002, sử dụng một ống nong duy nhất, được đẩy qua dây dẫn vào mô mềm bằng cách xoay theo chiều kim đồng hồ để tạo lỗ mở.¹⁶
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ