Cẩm nang Hô hấp Can thiệp. Practical Guide to Interventional Pulmonology
Bản quyền (C) 2024 Nhà xuất bản Elsevier.
Ts.Bs. Lê Nhật Huy – Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và chú giải)
Chương 17: Soi lồng ngực nội khoa
Medical Thoracoscopy
Pyng Lee
Practical Guide to Interventional Pulmonology, 17, 179-190
MỤC LỤC CHƯƠNG
| GIỚI THIỆU TRANG THIẾT BỊ Dụng cụ Cứng Ống soi Lồng ngực Mềm-Cứng CHỐNG CHỈ ĐỊNH CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN VÔ CẢM KỸ THUẬT Sinh thiết Màng phổi Thành có Hướng dẫn qua Nội soi lồng ngực Xử trí Xuất huyết Gây dính Màng phổi bằng Bột Talc qua Nội soi lồng ngực BIẾN CHỨNG ỨNG DỤNG LÂM SÀNG Tràn dịch Màng phổi không rõ Nguyên nhân Ung thư Phổi U trung biểu mô Ác tính Tràn dịch Màng phổi do Lao TÓM TẮT |
GIỚI THIỆU
Soi lồng ngực, phẫu thuật lồng ngực có hỗ trợ bằng video (VATS), soi lồng ngực nội khoa (MT), và soi màng phổi là những thủ thuật xâm lấn tối thiểu giúp tiếp cận khoang màng phổi. Chúng chỉ khác nhau ở phương pháp vô cảm. Trong bài tổng quan này, trọng tâm là soi lồng ngực nội khoa chẩn đoán.
VATS được thực hiện bởi một bác sĩ phẫu thuật trong phòng mổ, thường với thông khí một phổi, ba cổng vào và các dụng cụ cứng. Sinh thiết phổi bằng dập ghim, cắt bỏ các nốt phổi, cắt thùy phổi, cắt toàn bộ phổi, cắt thực quản và mở cửa sổ màng ngoài tim được thực hiện bằng VATS, ngoài ra còn có sinh thiết màng phổi thành có hướng dẫn, dẫn lưu tràn dịch màng phổi hoặc tràn mủ màng phổi, và gây dính màng phổi¹ (Bảng 17.1). Mặt khác, soi lồng ngực nội khoa được thực hiện bởi một bác sĩ chuyên khoa hô hấp trong phòng nội soi dưới gây tê tại chỗ và an thần mức độ vừa. Soi lồng ngực nội khoa cho phép sinh thiết màng phổi thành dưới quan sát trực tiếp với độ chính xác cao. Ngoài ra, nó còn hỗ trợ các can thiệp điều trị như dẫn lưu dịch, đặt ống dẫn lưu ngực có hướng dẫn và gây dính màng phổi. Các bác sĩ ở châu Âu còn thực hiện cắt hạch giao cảm qua soi lồng ngực nội khoa để điều trị chứng tăng tiết mồ hôi vô căn và sinh thiết phổi trong bệnh phổi lan tỏa.
Bảng 17.1 VATS so với Soi lồng ngực Nội khoa (Soi màng phổi)
| Thủ thuật | VATS | Soi lồng ngực Nội khoa |
|---|---|---|
| Nơi thực hiện | Phòng mổ (OR) | Phòng nội soi hoặc phòng mổ |
| Người thực hiện | Bác sĩ phẫu thuật | Bác sĩ không phải phẫu thuật viên đã được đào tạo |
| Vô cảm | Gây mê toàn thân, Đặt nội khí quản hai nòng, Thông khí một phổi | Gây tê tại chỗ, An thần tỉnh, Tự thở |
| Chỉ định | Sinh thiết màng phổi thành, gây dính màng phổi, bóc vỏ màng phổi, sinh thiết phổi bằng dập ghim, cắt bỏ nốt phổi, cắt thùy phổi, cắt toàn bộ phổi, mở cửa sổ màng ngoài tim, cắt thực quản | Sinh thiết màng phổi thành, gây dính màng phổi, đặt ống dẫn lưu ngực dưới quan sát trực tiếp |
| VATS, Phẫu thuật lồng ngực có hỗ trợ bằng video. |
Năm 1910, Hans Christian Jacobaeus, một bác sĩ nội khoa người Thụy Điển, đã mô tả việc thăm khám khoang lồng ngực bằng một ống soi bàng quang cứng gắn với một đèn điện là “thorakoskopie”. Sau đó, ông đã cải tiến kỹ thuật này bao gồm cả việc gỡ dính màng phổi bằng dao đốt điện, còn được gọi là phẫu thuật Jacobaeus, để làm xẹp phổi bị lao vì vào thời điểm đó chưa có liệu pháp kháng lao hiệu quả. ⁵⁶ Tại một buổi thuyết trình trước Hiệp hội Bác sĩ Phẫu thuật Hoa Kỳ, Jacobaeus cho rằng “trong việc chẩn đoán phân biệt giữa các khối u và viêm màng phổi do nguyên nhân khác, soi lồng ngực có giá trị không nhỏ”. Ông là người ủng hộ mạnh mẽ cho việc sinh thiết có hướng dẫn qua nội soi lồng ngực trong đánh giá tràn dịch màng phổi không rõ nguyên nhân và đã áp dụng soi lồng ngực như một công cụ chẩn đoán và điều trị.
TRANG THIẾT BỊ
Dụng cụ Cứng
Trong lịch sử, các dụng cụ cứng như trocars và ống soi bằng thép không gỉ là trung tâm của kỹ thuật này.³⁻⁹ Soi lồng ngực bằng dụng cụ cứng đòi hỏi nguồn sáng xenon lạnh, một camera nội soi gắn vào thị kính của ống soi, một màn hình video và máy ghi hình (Hình 17.1). Ống soi 0 độ hữu ích cho việc quan sát trực tiếp trong khi các ống soi góc nghiêng (30 hoặc 50 độ) và ống soi tiềm vọng (90 độ) cung cấp một cái nhìn toàn cảnh khoang màng phổi. Việc lựa chọn trocars với các kích cỡ khác nhau (đường kính 5-13 mm) và làm bằng nhựa dùng một lần hoặc thép không gỉ tái sử dụng, cũng như các ống soi cứng với các góc nhìn khác nhau, phụ thuộc vào sở thích của người thực hiện và tình trạng của bệnh nhân. Một trocar lớn có thể chứa một ống soi lớn hơn với quang học tốt hơn sẽ cải thiện chất lượng thăm khám; tuy nhiên, việc chèn ép dây thần kinh liên sườn trong quá trình thao tác trocar có thể gây khó chịu nhiều hơn, đặc biệt nếu soi lồng ngực nội khoa được thực hiện dưới gây tê tại chỗ và an thần mức độ vừa. Một trocar 7 mm, ống soi 0 độ 4 mm hoặc 7 mm, và kìm sinh thiết quang học 5 mm thường cho phép sinh thiết màng phổi hiệu quả mà không cần đến cổng thứ hai và thường là phương pháp tiếp cận ban đầu được sử dụng cho soi lồng ngực bằng dụng cụ cứng.⁴,⁸,⁹

Hình 17.1 Dụng cụ trocars cứng, ống soi và các phụ kiện.
Tassi và Marchetti đã báo cáo về chất lượng hình ảnh tuyệt vời của khoang màng phổi khi sử dụng ống soi 3.3 mm cho một nhóm bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi khu trú nhỏ mà không thể tiếp cận bằng các dụng cụ kích thước tiêu chuẩn. Hai trocars 3.8 mm đã được sử dụng: một cho ống soi 3.3 mm và một cho kìm sinh thiết 3 mm. Hiệu suất chẩn đoán đạt 93.4%, tương đương với hiệu suất đạt được khi sử dụng kìm sinh thiết 5 mm thông thường.¹⁰
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ