Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[Sách Dịch] Y học Chu phẫu. Chương 40. Các rối loạn điện giải và nội tiết

106 phút đọc

SÁCH DỊCH “Y HỌC CHU PHẪU: QUẢN LÝ HƯỚNG ĐẾN KẾT QUẢ, ẤN BẢN THỨ 2”
Được dịch và chuyển thể sang tiếng Việt từ sách gốc “Perioperative Medicine: Managing for Outcome, 2nd Edition”
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – Hiệu đính: Ts.Bs.Lê Nhật Huy


Chương 40. CÁC RỐI LOẠN NỘI TIẾT VÀ ĐIỆN GIẢI
Endocrine and Electrolyte Disorders  – Peter Inglis, Eugene W. Moretti and Duane J. Funk
Perioperative Medicine, 40, 587-606


GIỚI THIỆU

Các rối loạn điện giải và nội tiết trong giai đoạn chu phẫu là vấn đề mà các bác sĩ gây mê hồi sức phải đối mặt hàng ngày. Với tỷ lệ đái tháo đường và béo phì ngày càng tăng cùng mối liên hệ của chúng với việc gia tăng tỷ lệ bệnh tật trong giai đoạn chu phẫu, các bác sĩ lâm sàng cần có kỹ năng thành thạo trong việc quản lý những rối loạn này. Chương này thảo luận về cách quản lý các tình trạng này và các vấn đề nội tiết phổ biến khác như bệnh tuyến giáp và tranh luận xung quanh việc bổ sung corticosteroid trong giai đoạn chu phẫu. Cuối cùng, chương này đề cập đến nguyên nhân và cách quản lý một số rối loạn điện giải thường gặp.

RỐI LOẠN CHỨC NĂNG NỘI TIẾT


ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Đái tháo đường là một bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi sự thiếu hụt insulin tuyệt đối hoặc tương đối từ tuyến tụy. Có ba loại đái tháo đường khác nhau. Mặc dù có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi nào, đái tháo đường type I thường khởi phát ở giai đoạn thanh thiếu niên. Nguyên nhân được cho là do sự phá hủy tự miễn các tế bào sản xuất insulin trong đảo tụy. Ở những người bệnh này có sự thiếu hụt insulin tuyệt đối và họ phụ thuộc vào insulin ngoại sinh để duy trì sự sống. Đái tháo đường type II là do kháng insulin, dẫn đến thiếu hụt insulin tương đối. Khởi phát thường ở tuổi trưởng thành, mặc dù dữ liệu dịch tễ gần đây cho thấy độ tuổi khởi phát trung bình đang giảm dần. Đái tháo đường type II là kết quả của một nhóm nguyên nhân không đồng nhất nhưng thường liên quan đến béo phì và mức insulin bất thường. Giống như nhiều bệnh hiện nay, có thể có yếu tố di truyền.

Đái tháo đường thai kỳ được định nghĩa là tình trạng không dung nạp carbohydrate bắt đầu hoặc được nhận biết lần đầu trong thai kỳ. Được cho là xảy ra ở 2%-9% tất cả các thai kỳ và liên quan đến tỷ lệ biến chứng đáng kể cho mẹ và thai nhi, như tình trạng vai khó sổ, gãy xương, liệt thần kinh và hạ đường huyết. Kết quả sức khỏe bất lợi lâu dài ở trẻ sơ sinh bao gồm tình trạng không dung nạp glucose kéo dài, béo phì và suy giảm khả năng trí tuệ. Đái tháo đường thai kỳ là yếu tố nguy cơ mạnh cho sự phát triển đái tháo đường sau này ở người mẹ.

Đái tháo đường đặc trưng bởi các biến chứng lâu dài liên quan đến vi mạch và đại mạch. Bệnh mạch máu này biểu hiện qua bệnh lý võng mạc, bệnh thần kinh và bệnh thận và là yếu tố nguy cơ lớn cho bệnh tim, đột quỵ, bệnh thận, mù lòa và cắt cụt chi không do chấn thương. Nguyên nhân của các biến chứng này là đa yếu tố và bao gồm quá trình glycosyl hóa protein và tổng hợp sorbitol do khử glucose, hoạt động như một độc tố mô.

Đối với việc quản lý người bệnh trong giai đoạn chu phẫu, bản thân đái tháo đường không phải là vấn đề quan trọng bằng mức độ rối loạn chức năng cơ quan cuối mà nó gây ra. Một số thử nghiệm lớn đã chứng minh rằng trong thời gian dài, kiểm soát đường huyết chặt chẽ, kiểm soát huyết áp chặt chẽ và hoạt động thể chất thường xuyên có thể trì hoãn các biến chứng vi mạch ở cả hai loại người bệnh đái tháo đường. Điều còn chưa rõ ràng là lợi ích của việc kiểm soát đường huyết trong giai đoạn chu phẫu.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ