Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Siêu âm Đa tham số trong Đánh giá Bệnh lý Gan Lan tỏa. CHƯƠNG 11. ĐÁNH GIÁ KHÔNG XÂM LẤN TÌNH TRẠNG GAN NHIỄM MỠ BẰNG CÁC KỸ THUẬT SIÊU ÂM

57 phút đọc

SIÊU ÂM ĐA THAM SỐ TRONG ĐÁNH GIÁ BỆNH LÝ GAN LAN TOẢ – PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN THỰC TẾ
Biên tập viên chính: R. Graham Barr, Giovanna Ferraioli MD – NXB Elsevier
Biên dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website yhoclamsang.net – sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM. 


CHƯƠNG 11. ĐÁNH GIÁ KHÔNG XÂM LẤN TÌNH TRẠNG GAN NHIỄM MỠ BẰNG CÁC KỸ THUẬT SIÊU ÂM

Noninvasive assessment of liver steatosis with ultrasound techniques
Giovanna Ferraioli; Richard G. Barr
Multiparametric Ultrasound for the Assessment of Diffuse Liver Disease, CHAPTER 11, 177-198


Giới Thiệu

Trên toàn cầu, tỷ lệ béo phì đã tăng gần gấp ba kể từ năm 1975. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) báo cáo rằng, tính đến năm 2016, hơn 1,9 tỷ người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên bị Thừa cân (Overweight), và trong số đó, hơn 650 triệu người bị Béo phì (Obesity). Báo cáo của WHO nhấn mạnh rằng phần lớn dân số thế giới sống ở các quốc gia nơi tình trạng thừa cân và béo phì gây tử vong nhiều hơn so với tình trạng thiếu cân. Đối với trẻ em, báo cáo ước tính có hơn 340 triệu trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì vào năm 2016. Một nghiên cứu mô hình hóa cho thấy đến năm 2030, tỷ lệ hiện mắc (Prevalence) của Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (Nonalcoholic Steatohepatitis – NASH) sẽ tăng 63% so với ước tính năm 2015, đồng thời Tử suất (Mortality) do bệnh gan cũng như bệnh gan tiến triển dự kiến sẽ tăng hơn gấp đôi. Sự gia tăng tỷ lệ béo phì này đã thúc đẩy WHO xác định béo phì là một trong chín bệnh không lây nhiễm toàn cầu cần được giải quyết.

Béo phì làm gia tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh lý, bao gồm Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (Nonalcoholic Fatty Liver Disease – NAFLD), hiện là bệnh gan mãn tính phổ biến nhất trên toàn thế giới. Thực tế, tỷ lệ hiện mắc của NAFLD tỷ lệ thuận với mức tăng của Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index – BMI).

Trong một đoàn hệ lớn tại Hoa Kỳ gồm những người trưởng thành trung niên không có triệu chứng, tỷ lệ hiện mắc NAFLD là 38% và tỷ lệ hiện mắc NASH là 14%. Các yếu tố liên quan đến sự hiện diện của NASH bao gồm chủng tộc, béo phì và đái tháo đường.

Tỷ lệ cá nhân mắc Đái tháo đường típ 2 (Type 2 Diabetes Mellitus), một yếu tố nguy cơ quan trọng khác đối với NAFLD và NASH, cũng đang gia tăng trên toàn thế giới. Đáng chú ý, đái tháo đường típ 2 dường như thúc đẩy tốc độ diễn tiến của NAFLD và là yếu tố dự báo Xơ hóa tiến triển (Advanced Fibrosis) và tử suất. Hơn nữa, tình trạng Thoái hóa mỡ gan (Liver Steatosis) có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự tiến triển của bệnh và đáp ứng điều trị ở bệnh nhân viêm gan C do virus, cũng như tiên lượng của những người nhận ghép gan.

NAFLD dường như là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra mức men gan (Aminotransferase) bất thường cũng như bệnh gan mãn tính ở phương Tây. Đây là một thuật ngữ bao trùm một phổ bệnh lý từ gan nhiễm mỡ lành tính đến NASH. NASH có thể tiến triển thành xơ gan với các biến chứng của nó, cụ thể là Tăng áp lực tĩnh mạch cửa (Portal Hypertension) và Ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular Carcinoma). Tỷ lệ hiện mắc của NAFLD trong dân số chung là khoảng 25% và tăng lên hơn 90% ở những người béo phì bệnh lý (Morbidly obese). Tỷ lệ tiến triển đến xơ hóa là khoảng 40%, và tỷ lệ tiến triển trung bình hàng năm ở NASH là 0,09%. Lý do tại sao một số bệnh nhân NAFLD, ngay cả những người có lượng mỡ thấp trong gan, lại phát triển NASH vẫn chưa được hiểu rõ. Mức độ gan nhiễm mỡ có liên quan đến Hội chứng chuyển hóa (Metabolic Syndrome) và nguy cơ tim mạch. Mặt khác, tình trạng nhiễm mỡ đáng kể dường như có liên quan đến sự tiến triển của xơ hóa ở bệnh nhân NAFLD. Cũng cần nhấn mạnh rằng một nghiên cứu toàn quốc gần đây ở Thụy Điển đã chỉ ra trong một đoàn hệ người lớn rằng Tỷ số rủi ro (Hazard Ratio) đối với tử suất chung cao hơn đáng kể ở tất cả các bệnh nhân NAFLD, bao gồm cả những người bị nhiễm mỡ đơn thuần, so với Nhóm chứng (Control Group). Kết quả của nghiên cứu này xác nhận các phát hiện trước đó trong các đoàn hệ nhỏ bệnh nhân NAFLD có sinh thiết gan, gợi ý rằng nhiễm mỡ đơn thuần vẫn có thể tiến triển rõ rệt, với khoảng một phần tư bệnh nhân phát triển xơ hóa cầu nối (Bridging fibrosis) trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Đáng chú ý, mức độ nhiễm mỡ ban đầu cao hơn ở những người có xơ hóa tiến triển. Đáng báo động, những phát hiện tương tự cũng được quan sát thấy ở trẻ em và thanh niên mắc NAFLD đã được xác nhận bằng sinh thiết: nhóm này có tỷ lệ tử suất chung, tử suất do ung thư, do bệnh gan và do chuyển hóa tim mạch cao hơn đáng kể so với nhóm chứng dân số chung tương đồng. Nhiễm mỡ đơn thuần có liên quan đến tỷ lệ tử suất đã điều chỉnh cao gấp 5,26 lần so với nhóm chứng.

Do đó, việc ước tính chính xác lượng mỡ trong gan có tầm quan trọng lớn trong quy trình chẩn đoán cho bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ