Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Siêu âm Đa tham số trong Đánh giá Bệnh lý Gan Lan tỏa. CHƯƠNG 12. TÁN SẮC SÓNG BIẾN DẠNG

27 phút đọc

SIÊU ÂM ĐA THAM SỐ TRONG ĐÁNH GIÁ BỆNH LÝ GAN LAN TOẢ – PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN THỰC TẾ
Biên tập viên chính: R. Graham Barr, Giovanna Ferraioli MD – NXB Elsevier
Biên dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website yhoclamsang.net – sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM. 


CHƯƠNG 12. TÁN SẮC SÓNG BIẾN DẠNG

Shear wave dispersion
Katsutoshi Sugimoto; Giovanna Ferraioli; Richard G. Barr
Multiparametric Ultrasound for the Assessment of Diffuse Liver Disease, CHAPTER 12, 199-212


GIỚI THIỆU

Xung lực Bức xạ Âm (Acoustic Radiation Force Impulse – ARFI) là một công nghệ đang phát triển liên tục, cung cấp thông tin cơ sinh học về Độ đàn hồi (Elasticity) hay Độ cứng (Stiffness) của mô bằng cách phát ra một xung đẩy, tạo ra các Sóng biến dạng (Shear Waves – SWs) lan truyền theo phương ngang. Ngoài độ đàn hồi, Độ nhớt (Viscosity) cung cấp thông tin cơ sinh học về trạng thái bệnh lý của mô; đây là một đặc tính khác biệt so với chỉ riêng độ đàn hồi. Tuy nhiên, hầu hết các dòng máy Siêu âm đàn hồi (Ultrasound Elastography) hiện nay sử dụng mô hình đàn hồi tuyến tính để mô tả các đặc tính cơ học, và chỉ định lượng độ đàn hồi của mô. Tán sắc (Dispersion) liên quan đến sự phụ thuộc vào tần số của Tốc độ sóng biến dạng (Shear Wave Speed – SWS) và chịu ảnh hưởng bởi sự Suy giảm âm (Attenuation) của sóng biến dạng do thành phần nhớt của mô gây ra. Nếu một mô có tính tán sắc, tốc độ sóng biến dạng và sự suy giảm của sóng biến dạng sẽ tăng lên theo tần số. Do đó, việc phân tích các đặc tính tán sắc của sóng biến dạng có thể đóng vai trò như một phương pháp gián tiếp để đo độ nhớt.

Tính đến đầu năm 2022, Tạo ảnh tán sắc (Dispersion Imaging), một công nghệ hình ảnh mới, đã được phát triển bởi một số nhà cung cấp thiết bị siêu âm, bao gồm Tạo ảnh Tán sắc Sóng biến dạng (Shear Wave Dispersion Imaging – SWD; Canon Medical Systems, Nhật Bản), Viscosity PLUS (Vi PLUS; Hologic, Hoa Kỳ) và Elastance (Columbus, Ohio, Hoa Kỳ). Trong chương này, tính khả thi của việc đánh giá độ nhớt gan được xem xét dựa trên các phát hiện từ cả nghiên cứu trên động vật và đánh giá lâm sàng ở người.

VẬT LÝ

Một mô sinh học đồng nhất có thể được mô hình hóa bằng cách sử dụng các Mô hình nhớt đàn hồi (Viscoelastic Models) như mô hình Voigt và Maxwell (bao gồm một lò xo và một bộ giảm chấn), và mô hình Zener (bao gồm hai lò xo và một bộ giảm chấn). Sử dụng mô hình Voigt làm ví dụ để minh họa sự phụ thuộc vào tần số của SWS, tốc độ sóng biến dạng cs tại tần số sóng biến dạng ω được tính toán bởi mô hình Voigt thể hiện như dưới đây:

cs(ω) = √[2(μ² + ω²·η²)/ρ(μ + √(μ² + ω²·η²))] (1)

Trong đó ρ, μ, và η lần lượt là Mật độ (Density), Độ đàn hồi trượt (Shear Elasticity) và Độ nhớt trượt (Shear Viscosity) của môi trường. Khi thay thế độ nhớt trượt η bằng 0 trong phương trình (1), tức là giả định mô hoàn toàn đàn hồi và bỏ qua độ nhớt, tốc độ sóng biến dạng cs có thể được chuyển đổi thành một mối quan hệ đơn giản với độ đàn hồi trượt:

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ