Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Sổ tay Lâm sàng Tiết niệu Penn, Ấn bản thứ 3. CHƯƠNG 24. CÁC KHỐI U SAU PHÚC MẠC VÀ XƠ HÓA SAU PHÚC MẠC

31 phút đọc

Sổ tay Lâm sàng Tiết niệu Penn, Ấn bản thứ 3
Penn Clinical Manual of Urology Third Edition – (C) 2025 Nhà Xuất Bản ELSEVIER
Biên tập: Thomas J. Guzzo, Robert C. Kovell, Justin B. Ziemba, Dana A. Weiss, Alan J. Wein
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Lê Huy Ngọc, Ts.Bs. Lê Nhật Huy, BSCKII. Trần Trung Kiên


CHƯƠNG 24. CÁC KHỐI U SAU PHÚC MẠC VÀ XƠ HÓA SAU PHÚC MẠC

Retroperitoneal tumors and retroperitoneal fibrosis
Daniel Roberson, MD; Daniel J. Lee, MD
Penn Clinical Manual of Urology, CHAPTER 24, 864-878.e1


Giải Phẫu Khoang Sau Phúc Mạc

Nhiều bệnh lý được các bác sĩ Tiết niệu điều trị nằm trong khoang sau phúc mạc, do đó, điều bắt buộc là tất cả các bác sĩ Tiết niệu phải phát triển và duy trì một nền tảng kiến thức vững chắc về giải phẫu khoang sau phúc mạc (Bảng 24.1). Các giới hạn của khoang sau phúc mạc như sau: lá phúc mạc thành sau của ổ bụng ở phía trước, cơ hoành ở phía trên, đầu vào của khung chậu thật (tiểu khung) ở phía dưới, các cơ và mô liên kết liên quan của thành cơ thể ở phía sau mở rộng ra các cơ vùng hông lưng ở phía bên.

Gần như mọi hệ thống cơ quan đều đi qua khoang sau phúc mạc. Đáng chú ý đối với các bác sĩ Tiết niệu, đường tiết niệu trên bao gồm thận và đoạn gần đến đoạn giữa của niệu quản nằm trong khoang sau phúc mạc, cũng như cả hai tuyến thượng thận. Nằm trong khoang sau phúc mạc là các cấu trúc mạch máu lớn của cơ thể bao gồm động mạch chủ và tĩnh mạch chủ dưới (IVC) đi từ cơ hoành xuống đến chỗ chia nhánh động mạch chậu chung cùng với tất cả các nhánh quan trọng ở giữa, bao gồm các mạch máu thắt lưng và các nhánh trước đi đến các tạng trong ổ bụng. Liên quan đến các mạch máu này là mạng lưới bạch huyết. Các đám rối thần kinh lớn của hệ thần kinh cảm giác, vận động và tự chủ, bao gồm đám rối tạng (celiac plexus), đám rối hạ vị và đám rối cùng, đều nằm trong khoang sau phúc mạc. Các phần của đường tiêu hóa, bao gồm tụy, đoạn thứ hai và thứ ba của tá tràng, và đại tràng lên cũng như đại tràng xuống nằm trong khoang sau phúc mạc. Rốn lách nằm trong khoang sau phúc mạc khi các mạch máu lách đi vào ổ bụng. Các mô liên kết bao gồm mỡ chiếm một phần đáng kể không gian sau phúc mạc.

Bảng 24.1 Chẩn đoán Phân biệt

Xơ hóa sau phúc mạc
(Retroperitoneal Fibrosis)
Xuất huyết sau phúc mạc
(Retroperitoneal Hemorrhage)
Khối u sau phúc mạc
(Retroperitoneal Tumor)
Phình động mạch chủ (Aortic aneurysm) Vỡ mạch máu lớn Nguồn gốc huyết học
Carcinoid Nguồn gốc huyết học (liệu pháp chống đông, rối loạn tạo máu) U lympho (Lymphoma)
Quá trình nhiễm trùng (nhiễm nấm histoplasma, nấm actinomycosis, lao) Do thầy thuốc (thủ thuật qua da hoặc mạch máu) Bệnh di căn (đại trực tràng, vú, phổi, tiết niệu sinh dục, tuyến giáp)
Bệnh viêm ruột Xuất huyết tụy Sarcoma (sarcoma mỡ, sarcoma cơ trơn)
Xâm lấn trực tiếp của khối u tại chỗ (thận, thượng thận) Xuất huyết thận (u cơ mỡ mạch) U tế bào Schwann (Schwannoma)
U mô thừa (Hamartoma) Viêm tụy U cơ trơn (Leiomyoma)
U mỡ (Lipoma) Sarcoma sau phúc mạc Bệnh di căn
Xuất huyết sau phúc mạc

Mối quan hệ giải phẫu giữa các cấu trúc nêu trên rất quan trọng cần nắm vững khi các phẫu thuật viên tiết niệu thực hiện đánh giá bệnh lý sau phúc mạc và lên kế hoạch cho đường mổ cũng như ranh giới phẫu thuật. Việc mất các lớp mỡ thông thường của mạc treo đại tràng phải và trái trên hình ảnh học trước phẫu thuật làm dấy lên lo ngại về sự xâm lấn của chúng vào khối u. Sự phát triển của khối u tân sinh vào hoặc tổn thương do thầy thuốc đối với cơ thắt lưng chậu (cơ psoas) có thể gây yếu vận động với biểu hiện gấp khớp háng và duỗi đầu gối chi dưới. Tương tự, dị cảm mặt trước và mặt trong đùi có thể do sự phát triển vào hoặc tổn thương dây thần kinh sinh dục đùi. Các quá trình ác tính hoặc các thủ thuật phẫu thuật ở khoang sau phúc mạc bên trái làm dấy lên lo ngại về sự liên quan đến động mạch chủ, lách và đuôi tụy, trong khi ở bên phải cũng có lo ngại tương tự về sự liên quan đến tĩnh mạch chủ dưới (IVC) và tá tràng. Một điểm khá đặc thù của phẫu thuật vùng sau phúc mạc là thường xuyên cần có sự tiếp cận đa chuyên khoa liên quan đến các kíp phẫu thuật khác nhau.

Các Bệnh Lý Lành Tính Của Khoang Sau Phúc Mạc

Xơ Hóa Sau Phúc Mạc

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ