TỔNG QUAN LÂM SÀNG: Sốc Tắc Nghẽn (Obstructive Shock)
Todd Taylor MD. Cập nhật ngày 23 tháng 1 năm 2025. Bản quyền Elsevier BV. Bảo lưu mọi quyền.
Dịch và chú giải: Bs Lê Đình Sáng
I. TÓM TẮT

Lược đồ chẩn đoán và điều trị sốc tắc nghẽn. Vẽ hình: bs Lê Đình Sáng
1.1 Điểm chính:
- Sốc tắc nghẽn là loại sốc hiếm gặp nhất, chỉ chiếm 1% đến 2% các trường hợp sốc
- Nguyên nhân thường là do tắc nghẽn tuần hoàn xảy ra trước tim (tràn khí màng phổi áp lực), giữa các tâm thất (ví dụ: thuyên tắc phổi), hoặc sau tim (hẹp động mạch chủ, bóc tách động mạch chủ)
- Siêu âm sớm sử dụng giao thức RUSH (Siêu âm nhanh trong Sốc) thường là chìa khóa để chẩn đoán và là công cụ chẩn đoán sớm quan trọng nhất trong hầu hết các dạng sốc
- Điều trị phụ thuộc vào việc xác định nguyên nhân tắc nghẽn, vì các phương thức điều trị rất khác nhau
- Mặc dù dịch truyền và thuốc vận mạch có thể tạm thời ổn định bệnh nhân, nhưng trọng tâm vẫn phải là chẩn đoán nhanh chóng và can thiệp trực tiếp dựa trên nguyên nhân tắc nghẽn
- Có thể bắt đầu sử dụng thuốc vận mạch qua đường ngoại vi trong thời gian ngắn trước khi thiết lập đường truyền trung tâm
1.2 Dấu hiệu và triệu chứng cảnh báo:
- Sốc là biểu hiện muộn của suy tuần hoàn
- Lactate tăng có thể chỉ điểm tình trạng xấu đi hoặc điều trị chưa đầy đủ
II. THÔNG TIN CƠ BẢN
2.1 Thông tin nền tảng:
- Sốc được định nghĩa là suy tuần hoàn với tưới máu mô không đầy đủ dẫn đến thiếu oxy tế bào
- Sốc có thể được phân loại thành 4 nhóm chính (Bảng 1):
a) Sốc tắc nghẽn
- Do tắc nghẽn trong tuần hoàn (ví dụ: huyết khối, khối u, khí) hoặc chèn ép từ bên ngoài (ví dụ: ép tim cấp, tràn khí màng phổi áp lực)
- Chiếm khoảng 2% trong các loại sốc ở người lớn
b) Sốc giảm thể tích
- Do mất máu hoặc thể tích từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể
- Chiếm khoảng 16% trong các loại sốc ở người lớn
c) Sốc tim
- Do suy bơm thứ phát sau giảm co bóp hoặc rối loạn nhịp
- Chiếm khoảng 16% trong các loại sốc ở người lớn
d) Sốc phân bố
- Do giãn mạch và/hoặc viêm
- Chiếm khoảng 62% trong các loại sốc ở người lớn
2.2 Các thông tin bổ sung:
- Không hiếm gặp khi 2 hoặc nhiều loại sốc xảy ra đồng thời (ví dụ: trong chấn thương có tràn khí màng phổi và chảy máu)
- Sốc tắc nghẽn là một hội chứng lâm sàng có thể xuất hiện cùng với các loại sốc khác (ví dụ: sốc tim) và đặc trưng bởi tắc nghẽn dòng máu vào hoặc ra khỏi tim
- Việc điều trị sốc tắc nghẽn gặp nhiều thách thức vì điều trị cuối cùng dựa trên việc xác định và điều trị nguyên nhân gây tắc nghẽn tuần hoàn
- Trong 4 loại sốc (tim, giảm thể tích, phân bố và tắc nghẽn), sốc tắc nghẽn là loại ít gặp nhất
III. NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ
3.1 Nguyên nhân:
Nguyên nhân gây sốc tắc nghẽn (Bảng 2) rất đa dạng và có thể được phân loại thành các nhóm sau:
a) Rối loạn đổ đầy tâm trương (giảm tiền gánh thất phải) có thể xảy ra trong các trường hợp:
- Tràn khí màng phổi áp lực: tích tụ khí trong khoang màng phổi chèn ép tim, phổi và các mạch máu lớn kèm theo di lệch trung thất
- Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ: tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên có thể do ung thư phổi hoặc trung thất, hạch to, hoặc huyết khối tĩnh mạch
- Thông khí với PEEP cao ở bệnh nhân đặt nội khí quản
- Ép tim cấp ở bệnh nhân chấn thương, ung thư, lao, viêm cơ tim hoặc urê máu cao
b) Tắc nghẽn tuần hoàn phổi (tăng hậu gánh thất phải và giảm tiền gánh thất trái) có thể xảy ra trong:
- Thuyên tắc phổi, chấn thương, bất động, ung thư, dùng thuốc tránh thai, hút thuốc, gãy xương dài
- Tăng áp phổi ở bệnh nhân COPD, HIV, hẹp động mạch chủ hoặc ngưng thở khi ngủ
c) Tắc nghẽn tuần hoàn động mạch chủ (tăng hậu gánh thất trái) có thể xảy ra trong:
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ