Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Tổng quan lâm sàng Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh

59 phút đọc

TỔNG QUAN LÂM SÀNG NHIỄM KHUẨN HUYẾT Ở TRẺ SƠ SINH (CLINICAL OVERVIEW OF SEPSIS IN NEONATES; APERÇU CLINIQUE DE LA SEPTICÉMIE CHEZ LES NOUVEAU-NÉS )

Elsevier Point of Care. Cập nhật ngày 8 tháng 1 năm 2025. Bản quyền Elsevier BV. Đã đăng ký bản quyền.

Dịch và chú giải: Ths.Bs Lê Đình Sáng

I. TÓM TẮT

Sơ đồ tóm tắt chẩn đoán và điều trị sepsis ở trẻ sơ sinh

A. Các hành động khẩn cấp

  • Bất kỳ trẻ sơ sinh nào có dấu hiệu nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết đều cần được đánh giá toàn diện cấp cứu về nhiễm trùng, sử dụng kháng sinh đường tiêm ngay lập tức và nhập viện để theo dõi điều trị trong khi chờ kết quả nuôi cấy.
  • Bất kỳ trẻ sơ sinh nào có dấu hiệu sốc nhiễm khuẩn cần được hồi sức và chăm sóc hỗ trợ ngay lập tức, bao gồm thở oxy, hỗ trợ hô hấp, truyền dịch hồi sức và sử dụng thuốc vận mạch nếu không đáp ứng với liệu pháp truyền dịch.

B. Những điểm chính

  • Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh là tình trạng nhiễm trùng đặc trưng bởi nhiễm khuẩn máu hoặc viêm màng não do vi khuẩn xuất hiện trong 28 ngày đầu đời.
  • Biểu hiện có thể âm thầm và không đặc hiệu. Những thay đổi về tình trạng tinh thần, tưới máu ngoại vi và/hoặc tình trạng hô hấp là những dấu hiệu tốt nhất để xác định trẻ sơ sinh có nhiễm trùng nặng; sốt, hạ thân nhiệt, rối loạn huyết động và li bì là những dấu hiệu gợi ý mạnh.
  • Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết bao gồm cân nặng lúc sinh thấp (dưới 2500g), điểm Apgar thấp ở phút thứ 5 (điểm 6 hoặc thấp hơn), vỡ ối kéo dài (trên 18 giờ), viêm màng ối ở mẹ và điều trị không đầy đủ tình trạng nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B ở mẹ.
  • Khám sức khỏe và thăm khám lâm sàng không thể loại trừ nhiễm khuẩn huyết hoặc nhiễm trùng nặng do vi khuẩn ở trẻ sơ sinh; bất kỳ trẻ sơ sinh nào có dấu hiệu nhiễm khuẩn huyết đều cần được đánh giá chẩn đoán đầy đủ bao gồm công thức máu toàn phần, cấy máu và phân tích dịch não tủy kèm cấy. Xét nghiệm nước tiểu và cấy nước tiểu cho bất kỳ trẻ nào trên 3 ngày tuổi.
  • Cấy máu là xét nghiệm chẩn đoán xác định
  • Bất kỳ trẻ sơ sinh nào có dấu hiệu nhiễm khuẩn huyết đều cần điều trị kháng sinh thực nghiệm lên đến 48 giờ với theo dõi lâm sàng nội trú trong khi chờ kết quả nuôi cấy; ampicillin và gentamicin là lựa chọn ban đầu trong hầu hết các trường hợp
  • Có các hướng dẫn điều trị thực nghiệm và đánh giá trẻ sơ sinh không triệu chứng có nguy cơ cao đối với nhiễm khuẩn huyết khởi phát sớm do liên cầu khuẩn nhóm B. Ngưỡng điều trị kháng sinh giảm dần khi mức độ sinh non và số lượng yếu tố nguy cơ tăng lên (ví dụ: viêm màng ối, điều trị không đầy đủ tình trạng nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B ở mẹ, hoặc vỡ ối trên 18 giờ)
  • Điều trị hỗ trợ bao gồm thở oxy, truyền dịch hồi sức và thuốc vận mạch để điều trị hạ huyết áp và sốc nhiễm khuẩn
  • Nếu khả năng nhiễm khuẩn huyết thấp, ngừng điều trị kháng sinh sau 48 giờ
  • Viêm màng não là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của nhiễm khuẩn huyết
  • Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh sẽ gây tử vong nếu không được điều trị; tỷ lệ tử vong cao tới 20% đến 30% ở trẻ sinh non và 2% đến 3% ở trẻ đủ tháng
  • Can thiệp duy nhất được chứng minh làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết khởi phát sớm ở trẻ sơ sinh là điều trị kháng sinh trong chuyển dạ cho mẹ để phòng ngừa liên cầu khuẩn nhóm B

C. Những điểm cần lưu ý

  • Một số lượng đáng kể trẻ sơ sinh bị viêm màng não do vi khuẩn có kết quả cấy máu âm tính; nếu trẻ sơ sinh sẽ được điều trị kháng sinh cho nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết, đánh giá phải bao gồm chọc dò tủy sống với cấy dịch não tủy
  • Không phải tất cả trẻ sơ sinh nhiễm khuẩn huyết đều có thân nhiệt không ổn định; duy trì mức độ nghi ngờ cao khi trẻ sơ sinh có các triệu chứng không đặc hiệu như “chỉ là không hoạt động bình thường”, khó bú hoặc thở nhanh hoặc ngưng thở không rõ nguyên nhân

II. THUẬT NGỮ

A. Làm rõ về mặt lâm sàng

  • Phạm vi của tổng quan lâm sàng này bao gồm các nhiễm trùng sơ sinh trong 28 ngày đầu đời. Đối với nhóm trẻ sơ sinh khỏe mạnh, đủ tháng (từ 37 tuần thai trở lên), có biểu hiện tốt với quá trình chu sinh không biến chứng và sốt, tham khảo các phần sau:
    • 8-21 ngày tuổi (Liên quan: Sốt không rõ nguồn gốc ở trẻ sơ sinh (8-21 ngày))
    • 22-28 ngày tuổi (Liên quan: Sốt không rõ nguồn gốc ở trẻ sơ sinh (22-28 ngày))
    • 29-60 ngày tuổi (Liên quan: Sốt không rõ nguồn gốc ở trẻ sơ sinh (29-60 ngày))
🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

Trang Chủ