Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Thống kê Sinh học Cơ bản và Lâm sàng, Ấn bản thứ 5. Chương 7. Câu hỏi Nghiên cứu về Trung bình ở Ba nhóm trở lên

89 phút đọc

Thống kê Sinh học Cơ bản và Lâm sàng, Ấn bản thứ 5 – Basic & Clinical Biostatistics, 5e
Tác giả: Susan White – Nhà xuất bản McGraw-Hill Medical – Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng


Chương 7: Câu hỏi Nghiên cứu về Trung bình ở Ba nhóm trở lên
Research Questions About Means in Three or More Groups

CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH

  1. Cần có các kiểm định thống kê đặc biệt khi nghiên cứu nhiều hơn hai nhóm hoặc khi một nhóm được đo lường trên nhiều biến số.
  2. Phân tích phương sai (Analysis of variance, hay ANOVA) là một phương pháp thống kê chia phương sai trong một quan sát thành phương sai giữa các nhóm và phần phương sai còn lại, được gọi là phương sai trong nhóm hoặc phương sai sai số.
  3. Kiểm định F được sử dụng để so sánh hai phương sai trong Chương 6, cũng được dùng để so sánh phương sai giữa các nhóm với sai số.
  4. Một ví dụ về cách tính ANOVA từ các công thức định nghĩa sẽ hữu ích trong việc hiểu logic đằng sau kiểm định này.
  5. Các thuật ngữ dùng trong ANOVA rất quan trọng, nhưng chi tiết các phép tính chỉ được đưa ra để minh họa, và các chương trình máy tính được sử dụng cho tất cả các quy trình ANOVA.
  6. ANOVA một chiều (One-way ANOVA) là phương pháp thích hợp khi nghiên cứu nhiều hơn hai nhóm trên một biến số.
  7. Tương tự như kiểm định t, cần phải có một số giả định nhất định để sử dụng ANOVA, và phương sai bằng nhau là một trong những giả định quan trọng nhất.
  8. Thực hiện nhiều so sánh giữa các nhóm làm tăng khả năng xảy ra sai lầm loại I, tức là kết luận có sự khác biệt trong khi thực tế không có.
  9. Các nhà nghiên cứu có thể quyết định trước những so sánh cụ thể nào họ muốn thực hiện.
  10. Quy trình Bonferroni là một cách phổ biến để bù trừ cho việc thực hiện nhiều so sánh giữa các nhóm; nó hoạt động bằng cách giảm kích thước của α cho mỗi so sánh, về cơ bản là tăng sự khác biệt cần thiết để có ý nghĩa thống kê.
  11. Một số phương pháp so sánh bội, được gọi là post hoc, chỉ được thực hiện nếu kết quả ANOVA có ý nghĩa thống kê.
  12. Kiểm định Tukey là một trong những kiểm định post hoc được khuyến nghị nhiều nhất để so sánh sự khác biệt trung bình.
  13. Quy trình post hoc Scheffé là quy trình bảo thủ nhất (đòi hỏi sự khác biệt lớn hơn để có ý nghĩa thống kê), nhưng cũng là quy trình linh hoạt nhất.
  14. Quy trình post hoc Newman-Kuels thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học cơ bản.
  15. Quy trình Dunnett là kiểm định được lựa chọn nếu các so sánh duy nhất được thực hiện là giữa trung bình của một nhóm chứng và trung bình của các nhóm khác.
  16. ANOVA hai chiều (Two-way ANOVA) phân tích hai yếu tố thay vì chỉ một như trong ANOVA một chiều. Nó cũng cho phép phân tích sự tương tác giữa hai yếu tố.
  17. Các thiết kế ANOVA liên quan đến nhiều hơn hai yếu tố là khả thi, thường được gọi là thiết kế giai thừa (factorial designs).
  18. Các biến gây nhiễu có thể được xử lý bằng thiết kế khối ngẫu nhiên (randomized block design) của ANOVA.
  19. ANOVA đo lường lặp lại (Repeated-measures ANOVA) là một quy trình phổ biến trong nghiên cứu y học; nó tương tự như kiểm định t cặp với nhiều hơn hai nhóm và còn được gọi là thiết kế thửa chia nhỏ (split-plot design).
  20. Các phương pháp ANOVA phi tham số bao gồm Kruskal-Wallis cho thiết kế một chiều và Friedman two-way ANOVA cho các đo lường lặp lại. Các phương pháp này tương tự như các quy trình Wilcoxon và được sử dụng khi các giả định cho ANOVA không được đáp ứng.
  21. Kiểm định chi-bình phương (χ²) có thể được sử dụng để so sánh nhiều hơn hai tỷ lệ và để xác định xem có mối liên hệ giữa hai yếu tố hay không, mỗi yếu tố có thể có hai hoặc nhiều mức. Đây là một sự mở rộng đơn giản của kiểm định chi-bình phương mà chúng ta đã thảo luận trong Chương 6.
  22. Tương tự như các câu hỏi nghiên cứu liên quan đến một hoặc hai nhóm, phân tích công suất (power analysis) rất quan trọng đối với các nghiên cứu sử dụng ANOVA. Các tính toán ngày càng phức tạp, nhưng có sẵn các chương trình công suất thống kê để bao quát nhiều thiết kế.

CÁC VẤN ĐỀ TÌNH HUỐNG

Vấn đề tình huống 1

Bệnh nhân nhiễm HIV có nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng. Dysangco và các đồng nghiệp (2017) đã so sánh một số dấu ấn sinh học (biomarker) cho ba nhóm: 28 bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị bằng thuốc kháng retrovirus (ART), 44 bệnh nhân nhiễm HIV không điều trị bằng ART, và 39 người khỏe mạnh trong nhóm chứng.

Vấn đề tình huống 2

Cornelis và cs (2017) đã tạo ra một thang đo mới để đo lường khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL) của các đối tượng bị suy giảm nhận thức. Họ đã tạo ra một thang đo gọi là i-ADL-CDI và thử nghiệm nó trên ba nhóm đối tượng: 79 người khỏe mạnh (nhóm chứng), 73 đối tượng bị suy giảm nhận thức nhẹ (MCI), và 71 bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer.

Vấn đề tình huống 3

Durand và cs (2015) đã nghiên cứu lưu lượng máu ở chi dưới bị liệt và không bị liệt ở các đối tượng bị đột quỵ mạn tính (n=10) và nhóm chứng khỏe mạnh (n=10). Lưu lượng máu được đo bằng siêu âm dưới các mức co cơ tự nguyện tối đa (MVC) sau: 20%, 40%, 60%, và 80%. Họ thấy rằng lưu lượng máu sau 80% MVC là yếu tố dự báo tốt nhất về việc chi nào bị liệt.

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG

Nhiều dự án nghiên cứu trong y học sử dụng nhiều hơn hai nhóm, và các kiểm định chi-bình phương được thảo luận trong Chương 6 có thể được mở rộng cho ba nhóm trở lên khi kết quả là một thước đo định tính (hoặc đếm được). Khi kết quả là số, các giá trị trung bình được sử dụng, và các kiểm định t được thảo luận trong Chương 5 và 6 chỉ áp dụng cho việc so sánh hai nhóm. Các nghiên cứu khác xem xét ảnh hưởng của nhiều hơn một yếu tố. Những tình huống này đòi hỏi một kiểm định tổng thể (global, hay omnibus test) để xem liệu có bất kỳ sự khác biệt nào tồn tại trong dữ liệu trước khi kiểm tra các kết hợp trung bình khác nhau để xác định sự khác biệt của từng nhóm.

Nếu không thực hiện kiểm định tổng thể, nhiều kiểm định giữa các cặp trung bình khác nhau sẽ làm thay đổi mức ý nghĩa hay mức α cho toàn bộ thí nghiệm thay vì cho từng so sánh. Ví dụ, Marwick và các đồng nghiệp (1999) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hình ảnh tưới máu cơ tim và tử vong do tim ở nam và nữ. Các yếu tố bao gồm số lượng mạch vành bị ảnh hưởng (không đến ba) và liệu khiếm khuyết tưới máu là cố định hay có thể đảo ngược. Nếu các nhà điều tra này không sử dụng đúng các phương pháp đa biến để phân tích dữ liệu, các phương pháp mà chúng ta thảo luận trong Chương 10, việc so sánh nam và nữ trên 4 x 2 tổ hợp khác nhau của các yếu tố này sẽ tạo ra tám giá trị p. Nếu mỗi so sánh được thực hiện bằng cách sử dụng α = 0.05, cơ hội để mỗi so sánh bị gọi là có ý nghĩa một cách sai lầm là 5%; tức là, một sai lầm loại I có thể xảy ra tám lần khác nhau. Do đó, tổng thể, cơ hội (8 x 5%) để tuyên bố một trong các so sánh có ý nghĩa một cách không chính xác là 40%.¹

Một phương pháp để phân tích dữ liệu bao gồm nhiều quan sát được gọi là phân tích phương sai, viết tắt là ANOVA hoặc anova. Phương pháp này bảo vệ chống lại việc “lạm phát” sai số bằng cách đầu tiên hỏi liệu có bất kỳ sự khác biệt nào tồn tại giữa các trung bình của các nhóm hay không. Nếu kết quả của ANOVA có ý nghĩa thống kê, câu trả lời là có, và sau đó nhà nghiên cứu sẽ thực hiện các so sánh giữa các cặp hoặc các kết hợp nhóm.

Chủ đề phân tích phương sai rất phức tạp, và nhiều sách giáo khoa được dành riêng cho chủ đề này. Tuy nhiên, việc sử dụng nó trong y văn có phần hạn chế, bởi vì các phương pháp hồi quy (xem Chương 10) có thể được sử dụng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu tương tự. Mục tiêu của chúng tôi là cung cấp đủ thảo luận để bạn có thể xác định các tình huống mà ANOVA là phù hợp và diễn giải kết quả. Nếu bạn quan tâm đến việc tìm hiểu thêm về phân tích phương sai, hãy tham khảo Berry và các đồng nghiệp (2001) hoặc cuốn sách kinh điển của Dunn và Clark (1987). Ngoại trừ các thiết kế nghiên cứu đơn giản, lời khuyên của chúng tôi cho các nhà nghiên cứu tiến hành một nghiên cứu liên quan đến nhiều hơn hai nhóm hoặc hai biến số trở lên là tham khảo ý kiến của một nhà thống kê để xác định cách phân tích dữ liệu tốt nhất.

¹ Thực ra, 40% chỉ là xấp xỉ đúng; nó không phản ánh thực tế rằng một số so sánh không độc lập.

TỔNG QUAN TRỰC QUAN VỀ ANOVA

Logic của ANOVA

Trong Vấn đề tình huống 1, nồng độ cholesterol lipoprotein mật độ cao (HDL-C) được đo ở ba nhóm đối tượng: nhóm A (39 người nhóm chứng không nhiễm HIV) và nhóm B và C (bệnh nhân nhiễm HIV có hoặc không có điều trị kháng retrovirus [ART]). Các thống kê tóm tắt cho ba trong số các dấu ấn sinh học (ADMA, asymmetric dimethyl arginine; IL-6, interleukin 6; và HDL-C) được nghiên cứu trong nghiên cứu của Dysangco và cs (2017) được hiển thị trong Bảng 7-1.

ANOVA cung cấp một cách để chia tổng biến thiên trong HDL-C của mỗi đối tượng thành hai phần. Giả sử chúng ta ký hiệu HDL-C của một đối tượng là X và xem xét X khác biệt bao nhiêu so với trung bình HDL-C của tất cả các đối tượng trong nghiên cứu, viết tắt là X̅̅. Sự khác biệt này (ký hiệu là X – X̅̅) có thể được chia thành hai phần: sự khác biệt giữa X và trung bình của nhóm mà đối tượng này thuộc về, X̅ⱼ, và sự khác biệt giữa trung bình nhóm và trung bình chung. Bằng ký hiệu, chúng ta viết:

(X – X̅̅) = (X – X̅ⱼ) + (X̅ⱼ – X̅̅)

Bảng 7-1. Giá trị dấu ấn sinh học của nghiên cứu HIV CVD.

Nhóm

ADMA IL-6 HCL-C
A (HIV-) (n=38) 0.59 ± 0.11 (n=35) 3.29 ± 9.52 (n=38) 49.84 ± 18.68
B (HIV+ART-) (n=44) 0.62 ± 0.17 (n=44) 2.82 ± 2.55 (n=44) 37.02 ± 10.27ª
C (HIV+ART+) (n=28) 0.47 ± 0.09ᵇ 1.64 ± 1.16 (n=28) 41.07 ± 10.77ª

ADMA, µmol/L asymmetric dimethyl arginine; IL-6, pg/mL, interleukin 6; HDL-C, mg/dL high density lipoprotein cholesterol ª P<0.05 so với A ᵇ P<0.05 so với A và B

Bảng 7-2. Nồng độ các dấu ấn sinh học.

Nhóm A (HIV-) ADMA IL6 HDLC Nhóm B (HIV+ART-) ADMA IL6 HDLC Nhóm C (HIV+ART+) ADMA IL6 HDLC
HIV- 0.629 0.832 78 HIV+ART- 0.897 2.069 44 HIV+ART+ 0.565 1.2754 30
HIV- 0.489 1.611 26 HIV+ART- 0.577 0.3934 30 HIV+ART+ 0.643 1.127 38
HIV- 0.61 2.653 73 HIV+ART- 0.615 2.2164 32 HIV+ART+ 0.564 2.43 27
HIV- 0.664 3 32 HIV+ART- 0.636 2.3795 38 HIV+ART+ 0.623 0.583 39
HIV- 0.461 1.117 57 HIV+ART- 0.612 1.141 23 HIV+ART+ 0.59 1.658 30
HIV- 0.511 2.703 48 HIV+ART- 0.526 0.6803 61 HIV+ART+ 0.403 0.48 65
HIV- 0.59 1.116 39 HIV+ART- 0.587 2.2574 29 HIV+ART+ 0.257 1.752 28
HIV- 0.591 0.622 118 HIV+ART- 0.629 0.9139 43 HIV+ART+ 0.438 0.852 40
HIV- 0.486 57.738 42 HIV+ART- 0.453 1.5525 29 HIV+ART+ 0.51 0.785 62
HIV- 0.691 2.13 35 HIV+ART- 0.742 1.8025 32 HIV+ART+ 0.421 0.819 39
HIV- 0.559 1.878 56 HIV+ART- 0.722 0.9902 35 HIV+ART+ 0.503 0.885 42
HIV- 0.91 2.2 44 HIV+ART- 0.518 2.0082 32 HIV+ART+ 0.422 2.031 38
HIV- 0.52 2.31 47 HIV+ART- 0.518 3.8902 54 HIV+ART+ 0.458 5.037 50
HIV- 0.534 0.716 46 HIV+ART- 0.676 2.0082 55 HIV+ART+ 0.422 4.489 33
HIV- 0.531 1.173 35 HIV+ART- 0.536 5.9828 48 HIV+ART+ 0.511 1.489 43
HIV- 0.506 1.285 59 HIV+ART- 0.548 2.2549 36 HIV+ART+ 0.449 45
HIV- 0.724 1.731 69 HIV+ART- 0.589 1.5533 33 HIV+ART+ 0.402 24
HIV- 0.783 1.855 28 HIV+ART- 0.35 1.8852 38 HIV+ART+ 0.514 1.643 34
HIV- 0.613 2.549 33 HIV+ART- 0.444 0.9459 26 HIV+ART+ 0.54 0.887 62
HIV- 0.457 1.512 42 HIV+ART- 0.611 7.4926 27 HIV+ART+ 0.587 3.34 43
HIV- 0.525 0.929 31 HIV+ART- 0.409 0.7648 37 HIV+ART+ 0.496 1.961 41
HIV- 0.71 1.824 51 HIV+ART- 0.496 0.441 49 HIV+ART+ 0.384 0.988 34
HIV- 0.632 1.512 24 HIV+ART- 0.373 2.0885 48 HIV+ART+ 2.4 52
HIV- 0.572 0.726 40 HIV+ART- 0.499 0.6689 43 HIV+ART+ 0.398 0.854 40
HIV- 0.682 69 HIV+ART- 0.832 1.5049 34 HIV+ART+ 0.471 0.48 54
HIV- 0.477 38 HIV+ART- 0.368 9.0369 59 HIV+ART+ 0.409 0.854 28
HIV- 0.558 45 HIV+ART- 0.634 2.038 31 HIV+ART+ 0.384 1.803 30
HIV- 0.672 0.996 48 HIV+ART- 0.564 3.578 34 HIV+ART+ 0.537 0.954 45
HIV- 0.587 2.608 60 HIV+ART- 1.024 2.901 30
HIV- 0.525 2.31 42 HIV+ART- 0.785 2.552 28
HIV- 0.507 1.062 63 HIV+ART- 0.664 1.34 28
HIV- 0.527 1.354 78 HIV+ART- 0.614 2.038 64
HIV- 0.781 5.16 39 HIV+ART- 1.204 3.999 24
HIV- 0.618 1.062 42 HIV+ART- 0.61 11.768 36
HIV- 0.589 0.76 81 HIV+ART- 0.52 5.736 47
HIV- 0.504 0.587 47 HIV+ART- 0.456 3.146 42
HIV- 0.529 1.257 44 HIV+ART- 0.736 1.395 27
HIV- 0.81 2.19 45 HIV+ART- 0.581 2.901 31
HIV+ART- 0.501 1.985 37
HIV+ART- 0.735 10.57 30
HIV+ART- 0.623 3.435 33
HIV+ART- 0.956 2.038 45
HIV+ART- 0.778 1.505 34
HIV+ART- 0.728 2.603 27

Bảng 7-2 chứa các quan sát ban đầu cho các đối tượng trong nghiên cứu. Đối tượng 1 trong nhóm chứng có HDL-C là 78 mg/dL. Trung bình chung cho tất cả các đối tượng là 42.48, vì vậy đối tượng 1 khác với trung bình chung một khoảng là 78 – 42.48, hay 35.52. Sự khác biệt này có thể được chia thành hai phần: sự khác biệt giữa 78 và trung bình của nhóm chứng, 49.84; và sự khác biệt giữa trung bình của nhóm chứng và trung bình chung. Do đó,

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ