Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng. CHƯƠNG 10. UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ ĐỘT BIẾN THỤ THỂ YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG BIỂU BÌ: CÁCH TIẾP CẬN LÂM SÀNG

124 phút đọc

Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng (Lung Cancer: An Evidence-Based Approach to Multidisciplinary Management)
(C) 2025 Nhà xuất bản ELSEVIER – Nguyên tác bởi: Erin Alexis Gillaspie, Leora Horn, Amanda S. Cass
Dịch & Chú giải: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG 
Xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 10. UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ ĐỘT BIẾN THỤ THỂ YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG BIỂU BÌ: CÁCH TIẾP CẬN LÂM SÀNG

Mohana Roy (MD), Sukhmani K. Padda (MD)

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

• Tất cả bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (non-small cell lung cancer – NSCLC) tiến xa, không phải loại biểu mô vảy nên được trải qua xét nghiệm đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (epidermal growth factor receptor – EGFR) như một phần của bảng xét nghiệm phân tử rộng hơn (ví dụ: bảng giải trình tự gen thế hệ mới nhắm trúng đích).

• Các thuốc ức chế tyrosine kinase (tyrosine kinase inhibitors – TKIs) của EGFR là liệu pháp điều trị bước một tiêu chuẩn cho NSCLC tiến xa có đột biến EGFR, với dữ liệu trong 2 thập kỷ cho thấy sự cải thiện về thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (progression-free survival – PFS) khi so sánh với hóa trị liệu dựa trên nền tảng platinum.

• Osimertinib, một thuốc TKI EGFR thế hệ thứ ba, khi có sẵn, là tiêu chuẩn chăm sóc bước một cho NSCLC tiến xa có đột biến EGFR. Khuyến cáo này dựa trên thử nghiệm FLAURA, chứng minh sự cải thiện về thời gian sống thêm bệnh không tiến triển, thời gian sống thêm toàn bộ (overall survival – OS) và cải thiện hoạt tính trên hệ thần kinh trung ương khi so sánh với các thuốc TKI EGFR thế hệ thứ nhất (ví dụ: erlotinib hoặc gefitinib).

• Sinh thiết lỏng (liquid biopsies), giúp phát hiện và đo lường DNA khối u lưu hành, cung cấp các chẩn đoán không xâm lấn đối với đột biến EGFR và các xét nghiệm phân tử khác. Tuy nhiên, sinh thiết lỏng có thể bị giới hạn bởi độ nhạy của xét nghiệm. Nếu kết quả xét nghiệm âm tính với sự hiện diện của một đột biến, cần tiến hành sinh thiết mô để xác nhận lại.

• Tránh sử dụng liệu pháp miễn dịch (immunotherapy), dù là đơn trị liệu hay kết hợp với hóa trị, trong NSCLC có đột biến EGFR. Hiện thiếu dữ liệu ủng hộ việc sử dụng liệu pháp miễn dịch kết hợp với hóa trị, đồng thời có các dữ liệu nhấn mạnh hoạt tính lâm sàng kém khi sử dụng liệu pháp miễn dịch đơn độc. Điều này mang tính quyết định vì kết quả xét nghiệm hóa mô miễn dịch (immunohistochemistry) PD-L1 có thể có trước khi có kết quả xét nghiệm phân tử.

Giới Thiệu Và Dịch Tễ Học

Khám phá về các đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (epidermal growth factor receptor – EGFR) đã cách mạng hóa việc quản lý bệnh ung thư phổi tiến xa. Trong 2 thập kỷ qua, sự hiểu biết về các đột biến EGFR, cùng với các bất thường phân tử khác (ví dụ: ALK, ROS1, BRAF), đã mang lại vô số lựa chọn liệu pháp nhắm trúng đích (targeted therapy). Đột biến EGFR xuất hiện ở khoảng 10% đến 15% bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (non-small cell lung cancer – NSCLC) ở các quần thể phương Tây và lên tới 50% đến 60% ở các quần thể châu Á. Mặc dù theo kinh điển thường liên quan đến nhóm bệnh nhân chưa từng hút thuốc, tỷ lệ mắc đột biến EGFR có thể lên tới 37% ở những người hút thuốc thường xuyên trong các thuần tập người châu Á. Chương này sử dụng lăng kính lâm sàng để tập trung vào các dữ liệu hiện tại hỗ trợ mô hình chẩn đoán và điều trị NSCLC có đột biến EGFR. Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng được trình bày theo thứ tự sau: tỷ số nguy cơ (hazard ratio – HR), kèm theo khoảng tin cậy (confidence interval – CI) 95% và giá trị P cho sự so sánh giữa hai nhóm. Chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của các phương pháp xét nghiệm phân tử chính xác (tức là xét nghiệm máu và mô), việc lặp lại xét nghiệm phân tử tại thời điểm kháng thuốc và các cân nhắc khi sắp xếp trình tự các lựa chọn điều trị hiện có.

Con Đường Phân Tử Và Các Đột Biến

Con đường tín hiệu EGFR, đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự hình thành khối u và sự sống sót của tế bào, được biểu hiện quá mức trong sự phát triển và tiến triển của NSCLC. EGFR tồn tại dưới dạng một đơn phân (monomer) trên bề mặt tế bào và do đó phải nhị phân hóa (dimerize) để kích hoạt hoạt tính tyrosine kinase. Các đột biến soma kích hoạt (activating somatic mutations) xảy ra ở vùng của gen EGFR mã hóa cho miền tyrosine kinase (các exon từ 18 đến 24), dẫn đến sự kích hoạt cấu thành của EGFR và thúc đẩy sự tăng sinh tế bào. Hai đột biến kích hoạt EGFR phổ biến nhất là đột biến mất đoạn trong khung (in-frame deletions) tại exon 19 và đột biến thay thế (substitution mutations) L858R tại exon 21, chiếm khoảng 80% đến 90% tất cả các đột biến EGFR được tìm thấy trong NSCLC. Những đột biến EGFR này cũng được coi là các đột biến “nhạy cảm” (sensitizing mutations), có nghĩa là chúng dễ bị tác động bởi các thuốc ức chế tyrosine kinase (tyrosine kinase inhibitors – TKIs) của EGFR hiện có. Các thuốc TKI EGFR là những phân tử có khả năng ngăn chặn sự gắn kết của adenosine-5-triphosphate vào miền xúc tác tyrosine kinase của EGFR đã được kích hoạt cấu thành, làm gián đoạn con đường tín hiệu bất thường và do đó ngăn chặn sự tiến triển của chu kỳ tế bào và sự tăng sinh.

Xuyên suốt các đột biến nhạy cảm EGFR phổ biến nhất, tỷ lệ đáp ứng khách quan (objective response rates – ORR) là rất cao (khoảng 60%) với liệu pháp TKI EGFR. Dữ liệu từ các thử nghiệm so sánh liệu pháp TKI EGFR với hóa trị liệu bộ đôi platinum (platinum-doublet chemotherapy) cho thấy những bệnh nhân có đột biến mất đoạn exon 19 của EGFR có thể có kết cục tốt hơn so với những bệnh nhân có đột biến thay thế L858R tại exon 21 của EGFR. Trên thực tế, trong một phân tích gộp được lên kế hoạch trước của hai thử nghiệm trên 709 bệnh nhân kiểm tra thuốc TKI EGFR afatinib (một loại TKI EGFR thế hệ thứ hai) so với hóa trị liệu bộ đôi platinum, thời gian sống thêm toàn bộ (overall survival – OS) trung vị không được cải thiện khi sử dụng afatinib; tuy nhiên, trong phân tích phân nhóm theo loại đột biến, có một lợi ích mang ý nghĩa thống kê về OS chỉ ở những bệnh nhân có đột biến mất đoạn exon 19 của EGFR. Điều này khác với các thuốc TKI EGFR thế hệ thứ nhất, vốn không cho thấy lợi ích về OS khi tách biệt hai đột biến nhạy cảm phổ biến này.

Trong một phân tích gộp từ bảy thử nghiệm đủ điều kiện kiểm tra các thuốc TKI EGFR thế hệ thứ nhất và thứ hai, tỷ số nguy cơ (hazard ratio – HR) cho thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (progression-free survival – PFS) ủng hộ liệu pháp TKI EGFR so với hóa trị ở những bệnh nhân có đột biến mất đoạn exon 19 EGFR mạnh mẽ hơn (HR, 0,24; CI 95%, 0,20-0,29) so với những bệnh nhân có đột biến thay thế L858R tại exon 21 EGFR (HR, 0,48; CI 95%, 0,39-0,58; giá trị P cho sự tương tác < 0,001). Thú vị là, dữ liệu gần đây hơn từ nghiên cứu pha III FLAURA, kiểm tra thuốc TKI EGFR thế hệ thứ ba (tức là osimertinib) so với các TKI thế hệ trước (tức là gefitinib hoặc erlotinib), cũng cho thấy xu hướng cải thiện cả PFS và OS ở những bệnh nhân có đột biến mất đoạn exon 19 của EGFR, so với những bệnh nhân có đột biến thay thế L858R, (mất đoạn exon 19: HR của PFS 0,43 [CI 95%, 0,32-0,56] và HR của OS 0,68 [CI 95%, 0,51-0,90]; L858R: HR của PFS 0,51 [CI 95%, 0,36-0,71] và HR của OS, 1,00 [CI 95%, 0,71-1,40]). Thử nghiệm quan trọng này được mô tả chi tiết hơn ở phần sau. Tuy nhiên, tác động khác biệt này không nhất quán trong tất cả các nghiên cứu so sánh giữa các thuốc TKI EGFR. Dữ liệu mới nổi cho thấy ngay cả phân nhóm phụ của đột biến mất đoạn exon 19 EGFR (tức là L747-A750>P) cũng có thể có ý nghĩa đối với độ nhạy của TKI EGFR.

Cũng có những đột biến nhạy cảm EGFR ít gặp (ví dụ: G719X tại exon 18, L861Q; S768I tại exon 20) chiếm khoảng 10% đến 12% tất cả các đột biến EGFR. Có ít dữ liệu hơn để hỗ trợ một phương pháp điều trị chuẩn mực ở những bệnh nhân mang các đột biến ít phổ biến này, mặc dù họ có thể có kết cục kém hơn với liệu pháp TKI EGFR (được thảo luận chi tiết hơn ở phần sau). Đáng chú ý, không phải tất cả các đột biến EGFR đều nhạy cảm với các thuốc TKI EGFR hiện có. Ví dụ, các đột biến chèn cặp base trong khung (in-frame base pair insertions) tại exon 20 cũng dẫn đến sự kích hoạt của EGFR và chiếm khoảng 3% đến 5% tất cả các NSCLC có đột biến EGFR. Tuy nhiên, hầu hết các đột biến này đều liên quan đến khả năng kháng thuốc TKI EGFR nguyên phát, với tỷ lệ đáp ứng chỉ khoảng 3% đến 8% và PFS trung vị khoảng 2 tháng. Bảng 10.1 trình bày bản tóm tắt các TKI được sử dụng nhiều nhất và các đặc tính chính của chúng, có liên quan đến việc sử dụng trên lâm sàng.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ