1. Tuyến yên được chia thành hai thùy chính: thùy trước (adenohypophysis) và thùy sau (neurohypophysis). Thùy trước tiết ra 6 hormone chính: GH, ACTH, TSH, FSH, LH và prolactin. Thùy sau lưu trữ và giải phóng ADH và oxytocin được sản xuất từ vùng dưới đồi. Hiểu biết này là nền tảng cho việc đánh giá các rối loạn tuyến yên.
2. Khối u tuyến yên là nguyên nhân phổ biến nhất gây rối loạn chức năng tuyến yên ở người trưởng thành. Theo nghiên cứu của Ezzat (2004), tỷ lệ mắc khối u tuyến yên trong dân số chung là khoảng 16.7%. Hầu hết là u lành tính, nhưng có thể gây rối loạn tiết hormone hoặc hiệu ứng khối.
3. Hội chứng tăng áp lực nội sọ là biểu hiện phổ biến của khối u tuyến yên lớn. Triệu chứng bao gồm đau đầu, buồn nôn, nôn và rối loạn thị giác. Nghiên cứu của Gondim (2009) cho thấy 67% bệnh nhân u tuyến yên lớn có đau đầu. Cần đánh giá thị trường và thị lực ở tất cả bệnh nhân nghi ngờ u tuyến yên.
4. Prolactinoma là loại u tuyến yên tiết hormone phổ biến nhất. Chiếm khoảng 40% các trường hợp u tuyến yên. Biểu hiện bằng tăng prolactin máu, vô kinh và tiết sữa ở nữ, giảm ham muốn tình dục và vô sinh ở nam. Theo hướng dẫn của Endocrine Society (2011), chẩn đoán dựa vào nồng độ prolactin >100 ng/mL và hình ảnh u tuyến yên trên MRI.
5. Thuốc chủ vận dopamine là lựa chọn đầu tay trong điều trị prolactinoma. Cabergoline hiệu quả hơn và ít tác dụng phụ hơn bromocriptine. Nghiên cứu của Colao (2003) cho thấy 90% bệnh nhân đáp ứng với cabergoline, với giảm kích thước u và bình thường hóa prolactin. Cần theo dõi định kỳ nồng độ prolactin và kích thước u trên MRI.
6. U tuyến yên tiết GH gây bệnh to đầu chi ở người trưởng thành. Biểu hiện bao gồm to bàn tay, bàn chân, các đặc điểm mặt thô, và các biến chứng chuyển hóa. Chẩn đoán dựa vào IGF-1 tăng cao và GH không ức chế được trong nghiệm pháp dung nạp glucose. Theo hướng dẫn của Endocrine Society (2014), cần sàng lọc các biến chứng tim mạch, hô hấp và ung thư đại trực tràng.
7. Phẫu thuật qua đường xuyên bướm là lựa chọn đầu tay trong điều trị u tuyến yên tiết GH. Tỷ lệ thành công phụ thuộc vào kích thước u và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Nghiên cứu của Jane (2011) cho thấy tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 80% với u vi thể. Nếu phẫu thuật không thành công, có thể cân nhắc điều trị nội khoa hoặc xạ trị.
8. Pegvisomant là thuốc đối kháng thụ thể GH hiệu quả trong điều trị bệnh to đầu chi. Sử dụng khi phẫu thuật và thuốc chủ vận somatostatin thất bại. Nghiên cứu của Trainer (2000) cho thấy 97% bệnh nhân đạt IGF-1 bình thường sau 12 tháng điều trị. Cần theo dõi chặt chẽ enzym gan và kích thước u tuyến yên.
9. U tuyến yên tiết ACTH gây hội chứng Cushing. Chiếm khoảng 70% các trường hợp hội chứng Cushing nội sinh. Biểu hiện bao gồm béo phì trung tâm, rạn da, yếu cơ và rối loạn chuyển hóa. Chẩn đoán dựa vào cortisol tự do niệu 24h tăng, mất nhịp ngày đêm cortisol và test ức chế dexamethasone liều thấp dương tính.
10. Phẫu thuật u tuyến yên qua xương bướm là điều trị đầu tay cho bệnh Cushing do tuyến yên. Tỷ lệ thành công khoảng 65-90% tùy thuộc vào kích thước u. Nghiên cứu của Patil (2008) cho thấy tỷ lệ lui bệnh ban đầu là 82%, nhưng có 25% tái phát sau 5 năm. Cần theo dõi lâu dài cortisol máu và nước tiểu sau phẫu thuật.