Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[Sách dịch] Sổ tay Bệnh Gan. CHƯƠNG 29: U GAN

39 phút đọc

[Sách dịch] Sổ tay Bệnh Gan – Handbook of Liver Disease – (C) NXB Elsevier, 2022
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng


CHƯƠNG 29: U GAN
Hepatic Tumors
Wei Zhang MD, PhD and Adrian M. Di Bisceglie MD, FACP
Handbook of Liver Disease, Chapter 29, 383-394


NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

  1. U máu ở gan (Hemangioma) được tìm thấy ở 20% dân số bình thường và hiếm khi có ý nghĩa lâm sàng.
  2. Các khối u lành tính khác của gan rất hiếm gặp, bao gồm u tuyến tế bào gan (hepatic adenoma), thường yêu cầu phẫu thuật cắt bỏ do nguy cơ vỡ và khả năng phát triển thành ung thư.
  3. Khi có xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular carcinoma – HCC) chiếm khoảng 75% tổng số các khối u gan. Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất để phát triển HCC là xơ gan do bất kỳ nguyên nhân nào, nhiễm virus viêm gan B (HBV) và nhiễm virus viêm gan C (HCV) kèm theo xơ hóa tiến triển.
  4. Ghép gan dường như mang lại cơ hội chữa khỏi tốt nhất cho HCC, nhưng đây là một phương pháp đòi hỏi nguồn lực lớn và chỉ có thể áp dụng cho một tỷ lệ bệnh nhân hạn chế; rất ít bệnh nhân là ứng cử viên phù hợp cho phẫu thuật có khả năng chữa khỏi.
  5. Tỷ lệ mắc ung thư đường mật (Cholangiocarcinoma – CC) đang gia tăng ở Hoa Kỳ, có thể liên quan đến xơ gan và nhiễm HBV, HCV. Ghép gan cho các trường hợp CC týp rốn gan giai đoạn sớm sau hóa xạ trị tân bổ trợ đã trở thành một lựa chọn hấp dẫn.

Các khối u lành tính của gan


U TUYẾN TẾ BÀO GAN (HEPATIC ADENOMA)

Đây là một sự tăng sinh lành tính của các tế bào gan. Đây là một khối u hiếm gặp, chủ yếu xuất hiện ở bệnh nhân nữ. Tỷ lệ mắc bệnh đã tăng lên từ những năm 1960, có thể liên quan đến việc giới thiệu và sử dụng ngày càng nhiều thuốc tránh thai đường uống.

■ U tuyến tế bào gan là một bệnh đa yếu tố. Mặc dù việc sử dụng thuốc tránh thai đường uống (OCP), giới tính nữ, androgen đồng hóa và tuổi tác là những yếu tố nguy cơ chính, u tuyến tế bào gan vẫn có thể xảy ra ở nam giới và phụ nữ không dùng OCP.

■ Có bốn phân nhóm phân tử chính dựa trên đặc điểm di truyền và kiểu hình của chúng: U tuyến tế bào gan đột biến yếu tố nhân tế bào gan (HNF)-1α, u tuyến tế bào gan kích hoạt β-catenin, u tuyến tế bào gan dạng viêm và u tuyến tế bào gan không phân loại.

■ U tuyến tế bào gan có đột biến kích hoạt β-catenin có nguy cơ cao chuyển dạng ác tính.

■ U tuyến tế bào gan dạng viêm bao gồm u tuyến tế bào gan giãn mạch (telangiectatic hepatic adenoma – THA), trước đây được phân loại là “tăng sản nốt khu trú giãn mạch”. Các yếu tố nguy cơ của THA bao gồm sử dụng OCP, liệu pháp hormone và béo phì. Một số u tuyến tế bào gan dạng viêm cũng có thể có kích hoạt β-catenin, làm tăng nguy cơ chuyển dạng ác tính.

Các u tuyến thường là đơn độc nhưng có thể là đa ổ, hiếm khi có nhiều hơn năm tổn thương. Kích thước thay đổi nhưng thường lớn hơn 5 cm đường kính tại thời điểm chẩn đoán và đôi khi rất lớn.

■ Bệnh đa u tuyến gan (Hepatic adenomatosis) là một tình trạng hiếm gặp đặc trưng bởi số lượng lớn u tuyến (>10) trong gan với tỷ lệ tái phát cao. Bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa cũng có thể có u máu và tăng sản nốt khu trú (FNH) kèm theo bệnh đa u tuyến.

■ Bệnh nhân thường có biểu hiện đau hoặc khó chịu ở hạ sườn phải, mặc dù đôi khi khối u được phát hiện tình cờ. Các u tuyến, đặc biệt là u tuyến tế bào gan giãn mạch, có thể vỡ, dẫn đến chảy máu trong ổ bụng (hemoperitoneum).

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ