Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). CHƯƠNG 28. CÁC RỐI LOẠN VIÊM MẠN TÍNH CỦA RUỘT

45 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 28. CÁC RỐI LOẠN VIÊM MẠN TÍNH CỦA RUỘT

Chronic inflammatory disorders of the bowel
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 28, 423-434


Giới thiệu

Tình trạng viêm đáng kể ở bất kỳ phần nào của ruột non hoặc ruột già thường biểu hiện bằng tiêu chảy (tức là đi ngoài phân lỏng nhiều lần). Khi viêm ảnh hưởng đến ruột già, tiêu chảy thường có lẫn máu. Tiêu chảy mạn tính được định nghĩa là tình trạng kéo dài hơn 6 tuần, khác với tiêu chảy cấp tính của viêm dạ dày – ruột (gastroenteritis), thường do nguồn gốc virus hoặc liên quan đến ngộ độc thực phẩm và thường tự giới hạn, mặc dù bệnh này thường gây tử vong ở trẻ sơ sinh tại các nước có thu nhập thấp.

Sự thay đổi thói quen đại tiện mạn tính sang phân lỏng hơn và đi nhiều lần hơn, dù có lẫn máu hay không, đều gợi ý khả năng của ba nhóm chẩn đoán: nhiễm trùng (do trực khuẩn hoặc amip), các bệnh viêm ruột (viêm loét đại tràng, bệnh Crohn hoặc các dạng viêm đại tràng không nhiễm trùng hiếm gặp hơn) và các khối u (được đề cập trong Chương 27).

Thuật ngữ bệnh viêm ruột (inflammatory bowel disease – IBD) thường dùng để chỉ hai rối loạn ruột mạn tính: viêm loét đại tràng (ulcerative colitis) hoặc bệnh Crohn. Hai bệnh lý này chia sẻ nhiều đặc điểm sinh lý bệnh và lâm sàng. Tuy nhiên, bệnh Crohn có thể liên quan đến bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa (GI), trong khi viêm loét đại tràng chỉ giới hạn ở ruột già. Khi chỉ có ruột già bị viêm, điều quan trọng là phải phân biệt giữa các tình trạng này vì phương pháp điều trị và phổ biến chứng khác nhau đáng kể (Bảng 28.1).

Các bệnh lý này có bản chất mạn tính và hay tái phát. Chúng có đáp ứng khác nhau với các phương pháp điều trị, với khả năng xảy ra biến chứng sau các cuộc mổ lớn. Việc quản lý hiệu quả nhất và kết quả tốt nhất đến từ sự hợp tác giữa các bác sĩ nội tiêu hóa, bác sĩ ngoại tiêu hóa và bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Người bệnh phần lớn có thể được quản lý ở chế độ ngoại trú, nhưng các đợt cấp tính hoặc biến chứng có thể yêu cầu nhập viện. Phẫu thuật thường được chỉ định khi điều trị nội khoa thất bại hoặc khi xảy ra các biến chứng như viêm đại tràng tối cấp, tắc ruột, giãn đại tràng nhiễm độc hoặc thủng ruột. Ngoài ra, viêm loét đại tràng và bệnh Crohn là những yếu tố nguy cơ dài hạn đối với ung thư đại trực tràng.

Ở các nước thu nhập thấp, các bệnh nhiễm trùng gây viêm ruột già mạn tính phổ biến hơn và cũng có thể lây nhiễm cho khách du lịch. Đặc biệt, bệnh lỵ amip (amoebiasis) có thể bắt chước viêm loét đại tràng, và bệnh lao có thể bắt chước bệnh Crohn ngay cả ở Vương quốc Anh.

Viêm đại tràng giả mạc (pseudomembranous colitis) và các dạng viêm đại tràng liên quan đến kháng sinh khác ngày càng phổ biến ở những người bệnh nằm viện sau khi điều trị kháng sinh; chúng được thảo luận trong Chương 12. Trong khi các trường hợp điển hình có thể dễ dàng chẩn đoán và điều trị, các dạng nặng có thể yêu cầu cắt đại tràng cấp cứu và có thể gây tử vong ở người bệnh lớn tuổi. Các triệu chứng có thể xuất hiện kéo dài tới 6 tháng sau khi sử dụng kháng sinh.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ