PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 22. UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ NANG
Follicular Thyroid Cancer
Cosimo Durante; Sebastiano Filetti
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 22, 204-212
GIỚI THIỆU
Ung thư tuyến giáp thể nang (Follicular thyroid cancer – FTC) là một phân nhóm của ung thư tuyến giáp có nguồn gốc từ tế bào nang (follicular cell-derived thyroid cancer). Bệnh lý này thuộc nhóm rộng hơn là ung thư tuyến giáp biệt hóa (Differentiated Thyroid Cancer – DTC) và là phân nhóm mô học phổ biến thứ hai sau ung thư tuyến giáp thể nhú (Papillary Thyroid Cancer – PTC). Khác với PTC, tỷ lệ chẩn đoán FTC đang giảm dần theo thời gian do những thay đổi trong tiêu chuẩn chẩn đoán và có thể do các yếu tố môi trường như tình trạng đủ I-ốt (iodine sufficiency). So với PTC – thể bệnh phổ biến hơn, FTC mang tiên lượng nặng nề hơn do tần suất di căn xa (distant metastatic spread) thường gặp hơn. Vì tính chất hiếm gặp của FTC và những thay đổi về tiêu chuẩn chẩn đoán theo thời gian, hiện vẫn thiếu các bằng chứng thuyết phục về việc quản lý FTC, và các khuyến cáo trong hướng dẫn điều trị gần như phản ánh các khuyến cáo dành cho PTC.
DỊCH TỄ HỌC
Tần suất của FTC được ước tính từ 9% đến 40% tùy thuộc vào quần thể nghiên cứu, lượng I-ốt tiêu thụ và các tiêu chuẩn giải phẫu bệnh (pathologic criteria) được sử dụng để chẩn đoán. Nhìn chung, FTC chiếm khoảng 10% đến 15% trong tất cả các trường hợp ung thư tuyến giáp, với đa số là FTC xâm lấn tối thiểu (minimally invasive FTC). Tỷ lệ mắc mới (Incidence) của ung thư tuyến giáp nói chung đã tăng gần gấp ba lần kể từ giữa những năm 1970, nhưng tỷ lệ của FTC vẫn ổn định hoặc giảm, gợi ý rằng tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp hiện nay phần lớn là kết quả của sự gia tăng chẩn đoán PTC.
Người da trắng chiếm đa số trong các chẩn đoán ung thư tuyến giáp mới (>90%) tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm gia tăng hàng năm lớn nhất ở cả hai giới lại thuộc về người da đen (4,6% đến 5,8%). Trong một nghiên cứu đoàn hệ (cohort) khác tại Hoa Kỳ, tỷ lệ phần trăm FTC so với tất cả các ung thư tuyến giáp được ước tính là 14,2% trong giai đoạn 1985–1990 và 11,4% từ năm 1991 đến 1995, và khoảng 40% các chẩn đoán FTC mới liên quan đến các cá nhân ở thập kỷ thứ ba đến thứ năm của cuộc đời. Một phân tích gần đây hơn tại Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ mắc mới FTC vẫn ổn định ở mức 1/100.000 dân trong khoảng thời gian từ 1973 đến 2002, trong khi tỷ lệ chẩn đoán mới PTC tăng hơn gấp đôi (từ 3/100.000 lên hơn 7/100.000). Trong một đoàn hệ lớn tại Ý gồm 4187 bệnh nhân mắc DTC, tỷ lệ hiện mắc (Prevalence) của FTC ở những bệnh nhân được chẩn đoán sau năm 1990 là 9%—gần bằng một nửa so với tỷ lệ quan sát được (19,5%) ở những bệnh nhân được chẩn đoán trong khoảng 1969 đến 1990. Một yếu tố tiềm năng dẫn đến sự suy giảm tỷ lệ hiện mắc FTC là việc sử dụng dự phòng I-ốt (iodine prophylaxis) trong những năm gần đây, như được thể hiện trong một phân tích xu hướng thế giới. Một phân tích các cơ sở dữ liệu ung thư tuyến giáp tại Pháp cho thấy sự suy giảm tỷ lệ mắc mới các ca FTC từ năm 1983 đến 2000 nhưng mức giảm không đáng kể như quan sát thấy tại Ý, với mức giảm tuyệt đối hàng năm lần lượt là 2,2% và 0,5% ở nam và nữ.
Một số dữ liệu dịch tễ học gợi ý rằng việc tăng lượng I-ốt tiêu thụ (thứ phát do các chương trình bổ sung hoặc di chuyển từ vùng thiếu I-ốt sang vùng đủ I-ốt) có thể thay đổi tỷ lệ FTC. Giống như tất cả các dữ liệu dịch tễ học tương quan giữa tình trạng I-ốt với FTC hoặc DTC, ý nghĩa của những dữ liệu này bị hạn chế bởi sự thiếu hụt nhóm chứng (control group) và việc không phân tích được các biến số liên quan và các yếu tố gây nhiễu tiềm năng khác.
Những thay đổi trong chẩn đoán giải phẫu bệnh của PTC và FTC cũng đã ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc mới của các khối u này. Mô tả năm 1977 về biến thể nang của ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (follicular-variant PTC) bởi Chen và Rosai đã nhấn mạnh thực tế rằng tiêu chuẩn chính để chẩn đoán một ung thư biểu mô tuyến giáp là PTC nằm ở sự hiện diện của hình thái nhân biến đổi (altered nuclear morphology) thay vì sự chiếm ưu thế của cấu trúc nhú hay cấu trúc nang, như quan niệm trước đây (Hình 22.1). Đây là một sự thay đổi mô hình dẫn đến việc nhiều ung thư trước đây được chẩn đoán là FTC (lên đến 45% theo một nghiên cứu của Verkooijen và cộng sự) được báo cáo lại là PTC, làm đảo ngược tỷ lệ giữa FTC và PTC trong các chẩn đoán DTC. Sự phân loại lại này đã củng cố mối tương quan giữa mô học ung thư tuyến giáp và tỷ lệ sống còn không bệnh (recurrence-free survival) cũng như tỷ lệ sống còn đặc hiệu ung thư (cancer-specific survival): chẩn đoán FTC rõ ràng liên quan đến kết cục tồi tệ hơn so với các biến thể nang của PTC. Cần lưu ý rằng với phiên bản năm 2017 của phân loại Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư biểu mô tế bào Hürthle (Hürthle cell carcinoma) không còn được coi là một biến thể của FTC nữa và hiện được xem là một thực thể riêng biệt.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ