PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 21. THEO DÕI UNG THƯ BIỂU MÔ DẠNG NHÚ
Papillary Carcinoma Observation
Akira Miyauchi; R. Michael Tuttle
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 21, 199-203
Vui lòng truy cập ebooks.health.elsevier.com để xem video liên quan: Video 21.1 Giới thiệu về Chương 21, Theo dõi Ung thư biểu mô dạng nhú.
GIỚI THIỆU
Cách đây hơn 20 năm, khi nhận thấy tỷ lệ mắc mới (Incidence) của ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú vi thể (Papillary Microcarcinoma – PMC) phát hiện qua tử thiết (Autopsy) và các nghiên cứu sàng lọc lâm sàng (Clinical screening studies) vượt xa tỷ lệ hiện mắc (Prevalence) của ung thư tuyến giáp có biểu hiện lâm sàng, Miyauchi từ Bệnh viện Kuma ở Kobe, Nhật Bản, đã đưa ra giả thuyết rằng hầu hết các trường hợp PMC sẽ vẫn ở kích thước nhỏ và không bao giờ tiến triển thành bệnh lý có ý nghĩa lâm sàng (Clinically significant disease). Hơn nữa, ông cho rằng việc phẫu thuật ngay lập tức cho tất cả các trường hợp PMC có thể mang lại nhiều tác hại hơn là lợi ích, vì rất có khả năng một số ít ung thư tuyến giáp thể nhú nguy cơ thấp (Low-risk Papillary Thyroid Cancers) có xu hướng trở thành bệnh lý ý nghĩa lâm sàng sẽ tiến triển chậm và có thể được điều trị rất hiệu quả tại thời điểm ghi nhận bệnh tiến triển (Disease progression). Những giả thuyết này đã cung cấp cơ sở khoa học cho một thử nghiệm lâm sàng quan sát (Observational clinical trial) trên các bệnh nhân PMC, bắt đầu tại Bệnh viện Kuma vào năm 1993 và sau đó là tại Bệnh viện Viện Ung thư (Cancer Institute Hospital) ở Tokyo vào năm 1995.
Kể từ đó, nhiều công bố từ Nhật Bản đã chứng minh tính an toàn và hiệu quả của phương pháp quản lý quan sát (Observational management approach) (hay còn gọi là giám sát chủ động [Active Surveillance]) đối với PMC. Đúng như dự đoán của Miyauchi, tỷ lệ gặp các biến cố bất lợi (Adverse events) như liệt dây thanh quản (Vocal cord paralysis) tạm thời và vĩnh viễn, suy tuyến cận giáp (Hypoparathyroidism) tạm thời và vĩnh viễn, cũng như nhu cầu phải dùng Levothyroxine (Levothyroxine administration) đều cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật ngay lập tức so với những bệnh nhân được theo dõi bằng giám sát chủ động, mặc dù các ca phẫu thuật được thực hiện bởi những bác sĩ phẫu thuật nội tiết giàu kinh nghiệm tại Bệnh viện Kuma, một trung tâm chuyên sâu về chăm sóc tuyến giáp. Hơn nữa, giám sát chủ động cũng được chứng minh là một giải pháp thay thế có hiệu quả chi phí (Cost-effective) so với phẫu thuật ngay lập tức. Tổng chi phí tính toán cho phẫu thuật ngay lập tức kèm theo quản lý hậu phẫu trong 10 năm, bao gồm cả chi phí phẫu thuật lại do bệnh tái phát, gấp 4,1 lần tổng chi phí cho giám sát chủ động trong 10 năm, bao gồm cả chi phí cho phẫu thuật chuyển đổi (Conversion Surgery).
Gần đây hơn, các nghiên cứu từ Hoa Kỳ và Hàn Quốc đã tái lập và xác nhận các quan sát của Bệnh viện Kuma. Năm 2011, hướng dẫn của Hiệp hội Phẫu thuật viên Nội tiết Nhật Bản và Hội Phẫu thuật Tuyến giáp Nhật Bản đã xác nhận giám sát chủ động là một lựa chọn quản lý hợp lý. Dựa phần lớn vào kinh nghiệm của Nhật Bản và sự hiểu biết ngày càng cao về diễn tiến tự nhiên (Natural history) của ung thư tuyến giáp thể nhú nguy cơ thấp, các hướng dẫn của Hiệp hội Tuyến giáp Hoa Kỳ (American Thyroid Association – ATA) hiện nay cũng chấp thuận giám sát chủ động là một lựa chọn quản lý có thể chấp nhận được đối với ung thư tuyến giáp nguy cơ rất thấp đã được xác nhận bằng sinh thiết (Biopsy-proven). Hơn nữa, hướng dẫn của ATA cũng chấp thuận phương pháp quản lý quan sát mà không cần xác nhận tế bào học (Cytologic confirmation) đối với các nhân tuyến giáp dưới 1cm (Subcentimeter) có các đặc điểm trên siêu âm (Ultrasonography) nghi ngờ cao là ung thư tuyến giáp. Điều quan trọng cần lưu ý là thuật ngữ giám sát chủ động có thể áp dụng cho bệnh nhân có ung thư tuyến giáp nguy cơ thấp đã được xác nhận về mặt tế bào học hoặc những bệnh nhân có nhân tuyến giáp được phân loại là có nguy cơ ác tính cao mà không cần xác nhận tế bào học.
Phù hợp với thực hành tại thời điểm đó, Bệnh viện Kuma trước đây đã khuyến nghị rằng các nhân tuyến giáp ≥ 5 mm có các đặc điểm nghi ngờ trên siêu âm nên được đánh giá bằng chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm (Ultrasound-guided Fine-Needle Aspiration – FNA). Ngày nay, tại Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering (MSKCC), những bệnh nhân có nhân tuyến giáp nghi ngờ cao được đánh giá là phù hợp cho giám sát chủ động sẽ được đưa ra lựa chọn xác nhận ác tính bằng tế bào học trước khi quản lý quan sát hoặc giám sát chủ động mà không cần xác nhận tế bào học, phù hợp với hướng dẫn của ATA.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ