PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 23. TÂN SINH TUYẾN GIÁP THỂ NANG KHÔNG XÂM LẤN VỚI ĐẶC ĐIỂM NHÂN DẠNG NHÚ (NIFTP)
Noninvasive Follicular Thyroid Neoplasm With Papillary-Like Nuclear Features (NIFTP)
Yuri E. Nikiforov; Robert L. Ferris
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 23, 213-217
GIỚI THIỆU
Tân sinh tuyến giáp thể nang không xâm lấn với đặc điểm nhân dạng nhú (Noninvasive follicular thyroid neoplasm with papillary-like nuclear features – NIFTP) là một thực thể bệnh học (pathologic entity) mới được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công nhận vào năm 2017. Trước năm 2016, những khối u này được chẩn đoán là biến thể nang có vỏ bọc không xâm lấn (noninvasive encapsulated follicular variant) của ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nhú (Papillary Thyroid Carcinoma – PTC). Việc thay đổi danh pháp này nhằm tối ưu hóa quy trình chăm sóc, loại bỏ tâm lý nặng nề về bệnh ác tính (malignancy), và giảm thang bậc điều trị (de-escalate treatment) cũng như theo dõi bệnh nhân một cách hợp lý nhất.
ĐỊNH NGHĨA
NIFTP được WHO định nghĩa là một khối tân sinh không xâm lấn của các tế bào nang tuyến giáp (thyroid follicular cells) với kiểu tăng trưởng dạng nang (follicular growth pattern) và mang các đặc điểm nhân của ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nhú, nhưng có tiềm năng ác tính rất thấp (very low malignant potential). Đây được xem là một tổn thương giáp biên ác tính (borderline malignant) hoặc tiền ác tính (premalignant) hơn là một tổn thương lành tính hoàn toàn.
Chẩn đoán NIFTP dựa trên sự hiện diện của một nốt có vỏ bọc (encapsulated) hoặc ranh giới rõ ràng với kiểu tăng trưởng dạng nang và các tế bào biểu hiện đặc điểm nhân của ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nhú (PTC), đồng thời hoàn toàn vắng mặt các đặc điểm xâm lấn (invasive characteristics), cấu trúc nhú (papillary structures), hoặc các đặc điểm vi thể độ mô học cao (high-grade microscopic features). Chẩn đoán NIFTP chỉ được xác lập sau khi đã loại trừ hoàn toàn sự xâm lấn; do đó, bắt buộc phải khảo sát mô bệnh học toàn bộ vỏ bao khối u và diện tiếp xúc của khối u (tumor interface).
DỊCH TỄ HỌC
Do NIFTP là một thực thể mới được định danh, tỷ lệ mắc mới (incidence) chính xác hiện chưa rõ. Dựa trên các nghiên cứu hồi cứu ước tính tỷ lệ hiện mắc (prevalence) của biến thể nang có vỏ bọc không xâm lấn của ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nhú, NIFTP có khả năng chiếm 10% đến 20% tổng số các ca PTC được ghi nhận trước năm 2016 tại Bắc Mỹ, một số quốc gia Châu Âu và Brazil. Tỷ lệ chẩn đoán NIFTP thấp hơn đáng kể tại Châu Á, chỉ chiếm 1% đến 5% các ca ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nhú. Sự chênh lệch này có thể phản ánh khác biệt về chủng tộc hoặc sự thay đổi trong quan điểm mô bệnh học khi đánh giá các đặc điểm nhân của PTC bởi các Bác sĩ Giải phẫu bệnh (Pathologists) tại các khu vực khác nhau. Một ngưỡng chẩn đoán khắt khe hơn sẽ dẫn đến việc xếp loại nhiều trường hợp NIFTP thành u tuyến thể nang (follicular adenomas).
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ