Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Tâm thần học Nghiện chất. CHƯƠNG 10. CÁC THUỐC PHÂN LY, CHẤT GÂY ẢO GIÁC, CAFFEINE, CHẤT DẠNG HÍT, VÀ CÁC CHẤT LẠM DỤNG KHÁC

23 phút đọc

Tâm thần học nghiện chất – Hướng dẫn ôn thi Hội đồng toàn diện.
Addiction Psychiatric Medicine, A Comprehensive Board Review – First Edition. Nhà xuất bản ELSEVIER, 2023
Tác giả: Héctor Colón-Rivera, Elie G. Aoun, Leila M. Vaezazizi. Dịch và chú giải: Bs Lê Đình Sáng.
Xuất bản trực tuyến trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 10. CÁC THUỐC PHÂN LY, CHẤT GÂY ẢO GIÁC, CAFFEINE, CHẤT DẠNG HÍT, VÀ CÁC CHẤT LẠM DỤNG KHÁC

Dissociative Drugs, Hallucinogens, Caffeine, Inhalants, and Other Substances of Abuse
Hector Colon-Rivera
Addiction Psychiatric Medicine, Chapter 10, 91-98


Các Thuốc Phân Ly

Phần này thảo luận về ketamine, phencyclidine (PCP), và dextromethorphan (DXM). Nitrous oxide là một chất dạng hít có các đặc tính phân ly (dissociative properties) và được thảo luận chi tiết hơn ở phần sau của chương. Cả bốn chất này đều có chung đặc tính dược lý là các chất đối kháng thụ thể N-methyl-D-aspartate (NMDA). Hãy nhớ lại rằng thụ thể NMDA là một thụ thể glutamate hướng ion (ionotropic glutamate receptor) đóng vai trò quan trọng đối với trí nhớ và độ mềm dẻo của synapse (synaptic plasticity).

Ketamine

  • Ketamine là một chất đối kháng không cạnh tranh (noncompetitive antagonist) của thụ thể NMDA. Tại thụ thể NMDA, ketamine ngăn chặn dòng ion canxi và natri đi vào trong tế bào. Hiện nay, nó được sử dụng như một loại thuốc gây mê (anesthetic) và để điều trị đau cũng như trầm cảm. Ketamine cũng đang được nghiên cứu để điều trị Rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) và rối loạn sử dụng cocaine.
  • Ketamine là một dẫn xuất của PCP; việc nghiên cứu PCP trong phòng thí nghiệm đã dẫn đến sự phát hiện ra ketamine.
  • Ketamine tồn tại dưới hai dạng đồng phân quang học (enantiomers): S-ketamine và R-ketamine. Esketamine, đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận cho bệnh trầm cảm và có sẵn dưới dạng thuốc xịt mũi, chỉ được tạo thành từ đồng phân S, có tác dụng đối kháng NMDA mạnh hơn so với đồng phân R. Ketamine dùng đường tiêm tĩnh mạch (TM) là một hỗn hợp racemic (racemic mixture) của cả hai đồng phân quang học.
  • Ở liều lượng cao hơn, những cá nhân tiêu thụ ketamine sẽ bước vào một trạng thái thường được biết đến với tên gọi là “K-Hole” – một trạng thái phân ly thường được mô tả như một trải nghiệm thoát xác (out-of-body experience).
  • Các tác dụng cấp tính của tình trạng ngộ độc ketamine bao gồm chứng quên (amnesia), giãn đồng tử, rung giật nhãn cầu (nystagmus) (mặc dù ít hơn so với PCP), và tăng nhịp tim cũng như huyết áp.
  • Ketamine có thể được tìm thấy ở các dạng hợp chất khác nhau như dạng bột trắng, chất lỏng, và dạng viên thuốc.
  • Quá liều ketamine có thể dẫn đến suy hô hấp, ngưng thở (apnea), và tử vong, mặc dù liều gây chết người cao gấp khoảng 50 lần so với liều lượng giải trí điển hình.
  • Nó được sử dụng như một thuốc gây mê phân ly (dissociative anesthetic) và để điều trị đau cũng như trầm cảm.
ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG
Lamotrigine ức chế sự giải phóng glutamate và có thể làm giảm các tác động về mặt sinh lý cũng như nhận thức của việc lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích ketamine.

PCP

  • Nó là một chất đối kháng NMDA và là một chất đồng vận một phần (partial agonism) thụ thể dopamine type 2.
  • Tình trạng loạn thần do PCP gây ra có đặc điểm giống với bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia) ở cả các triệu chứng dương tính và âm tính. Trên thực tế, các mô hình động vật sử dụng PCP được sử dụng để nghiên cứu các loại thuốc điều trị bệnh tâm thần phân liệt.
  • Các tác dụng của PCP bao gồm sự phân ly, ảo giác, hoang tưởng bị hại (paranoia), giảm đau (analgesia), và bạo lực. Các dấu hiệu và triệu chứng khác của tình trạng ngộ độc PCP bao gồm tăng huyết áp, rung giật nhãn cầu, và thất điều (ataxia). Quá liều PCP có thể dẫn đến hôn mê, co giật, và tử vong.
  • Việc sử dụng PCP lặp đi lặp lại có thể gây ra sự gián đoạn trong quá trình dẫn truyền glutamate và chức năng của axit y-aminobutyric (GABA) ở vỏ não trước trán, gây ra các triệu chứng tương tự như bệnh tâm thần phân liệt.
  • PCP đã từng được sử dụng như một thuốc gây mê đường tiêm tĩnh mạch ở người và trong thú y, nhưng nó đã được thay thế bằng ketamine do tác dụng phụ bất lợi của nó là gây sảng (delirium) kéo dài.
  • Các kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính giả đối với PCP có thể xảy ra với tramadol, dextromethorphan, alprazolam, clonazepam, carvedilol, và diphenhydramine.

DXM

  • Nó là một loại thuốc ức chế ho không kê đơn. Nó thường được bán dưới dạng kết hợp với các loại thuốc khác như chlorpheniramine hoặc acetaminophen. Các loại siro ho có chứa DXM bị lạm dụng rộng rãi vì các tác dụng phân ly và gây hưng phấn của chúng (hay còn gọi là “robotripping”), chủ yếu bởi thanh thiếu niên và thanh niên.
  • Ngoài việc là một chất đối kháng NMDA, DXM cũng là một chất đồng vận thụ thể sigma-1-opioid và là một chất ức chế tái hấp thu serotonin không chọn lọc.
  • DXM là một chất tương tự tổng hợp của levorphanol, một loại opioid có cấu trúc tương tự như morphine.
  • Ở liều thấp, DXM có các tác dụng giống opioid (điều này giải thích cho hiệu quả ức chế ho của nó); ở liều cao hơn, nó hoạt động như một chất phân ly và chất gây ảo giác (hallucinogen).
  • Các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng ngộ độc DXM bao gồm giãn đồng tử, nhịp tim nhanh, ảo giác, loạn thần, hội chứng serotonin, co giật, và tiêu cơ vân (rhabdomyolysis).
  • Hội chứng ngộ độc brom (Bromism), hay sự tăng sinh bất thường nồng độ bromide từ các ion hydrobromide có trong siro ho, có thể xảy ra trong tình trạng ngộ độc DXM. Các triệu chứng bao gồm mệt mỏi, đau đầu, và suy giảm trí nhớ. Ngộ độc brom sẽ gây ra khoảng trống anion (anion gap) và nồng độ chloride tăng cao.
  • Trong trường hợp quá liều DXM, có thể sử dụng than hoạt tính và, ở liều cao, dùng naloxone. Do các sản phẩm chứa DXM thường xuyên có chứa acetaminophen, bác sĩ cũng phải đánh giá tình trạng quá liều acetaminophen và độc tính trên gan (hepatotoxicity). Không có loại thuốc giải độc đặc hiệu nào tồn tại cho độc tính của DXM.
ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG
Nồng độ bromide tăng cao do các ion hydrobromide trong các loại siro ho có thể xảy ra trong tình trạng ngộ độc DXM. Các triệu chứng bao gồm mệt mỏi, đau đầu, và suy giảm trí nhớ.

Các Chất Gây Ảo Giác

Các chất gây ảo giác có thể được phân loại thành nhóm có cấu trúc cơ bản là tryptamine (lysergic acid diethylamide [LSD], psilocybin, và dimethyltryptamine [DMT]), nhóm có cấu trúc cơ bản là phenethylamine (mescaline và một số chất gây ảo giác tổng hợp (designer hallucinogens), ví dụ: 2CI), và các chất gây ảo giác không điển hình khác (Salvia divinorum, hyoscine).

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ