Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026).
Dịch và Chú giải tiếng Việt: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.
CHƯƠNG 27. THỜI KỲ TIỀN THỤ THAI VÀ THAI KỲ Ở PHỤ NỮ BÉO PHÌ, SAU PHẪU THUẬT GIẢM BÉO VÀ HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG
Catherine Takacs Witkop Đại học Khoa học Sức khỏe Quân chủng (Uniformed Services University of the Health Sciences), Bethesda, MD, Hoa Kỳ
|
Các Vấn Đề Lâm Sàng Phổ Biến |
|---|
| Một bệnh nhân có tiền sử hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovarian syndrome – PCOS) và chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI) là 35 kèm theo triệu chứng thưa kinh (oligomenorrhea) và tiền sử đã cố gắng thụ thai trong 12 tháng, đến khám để được đánh giá và điều trị vô sinh.
Một bệnh nhân 35 tuổi, sinh con rạ (multiparous), có chỉ số BMI trước khi mang thai là 30 và tiền sử đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes – GDM) trong lần mang thai trước, đến khám thai lần đầu ở tuần thứ 8 của thai kỳ. Bệnh nhân có rất nhiều câu hỏi về việc làm thế nào để tránh mắc bệnh đái tháo đường trong thai kỳ này, các nguy cơ của cô là gì và quy trình sàng lọc các dị tật bẩm sinh (congenital anomalies) sẽ được thực hiện như thế nào. Một bệnh nhân 32 tuổi có chỉ số BMI trước khi mang thai là 40, đã tăng 20 pound (khoảng 9 kg) trong thai kỳ hiện tại. Hiện bệnh nhân đang ở tuần thai thứ 40 và các bác sĩ nghi ngờ rằng thai nhi có thể có tình trạng thai to so với tuổi thai (large for gestational age – LGA), nhưng họ cũng hiểu được những hạn chế của việc ước lượng trọng lượng thai nhi ở bệnh nhân này. Bệnh nhân và bác sĩ đang thảo luận về các nguy cơ và lợi ích của việc khởi phát chuyển dạ (induction of labor). Một bệnh nhân vừa trải qua phẫu thuật lấy thai lần đầu (primary cesarean delivery) cách đây 1 tuần do chuyển dạ ngừng tiến triển (failure to progress). Quá trình hậu sản của cô bị biến chứng bởi tình trạng nhiễm trùng vết mổ (wound infection), mặc dù hiện tại cô đã được xuất viện. Cô đang cố gắng nuôi con bằng sữa mẹ (breastfeed), nhưng cô cảm thấy chán nản và muốn bỏ cuộc. Cô đến gặp bạn để kiểm tra vết thương (wound check) và nói với bạn rằng cô luôn muốn có ba đứa con sinh sát năm nhau, nhưng bây giờ cô không còn chắc chắn về điều đó nữa. Chỉ số BMI trước khi mang thai của cô là 35 và cô đã tăng 30 pound (khoảng 13,6 kg) trong thai kỳ này. Cô hỏi làm thế nào để tránh gặp phải một số vấn đề tương tự trong những lần mang thai sau. |
27.1. Tổng Quan Chung
Mặc dù bệnh nhân và cộng đồng thường cho rằng béo phì (obesity) là hậu quả của sự mất cân bằng nội tiết tố (hormonal imbalance) hoặc rối loạn nội tiết (endocrine disorder), nhưng trong hầu hết các trường hợp, điều này không đúng. Tuy nhiên, một chương viết về tình trạng béo phì ở người mẹ lại rất phù hợp trong phần thảo luận về sinh lý bệnh học nội tiết của mẹ (maternal endocrine pathophysiology) bởi vì béo phì đóng một vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh (pathogenesis) của Hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic Ovarian Syndrome – PCOS) (được thảo luận trong chương này) và đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes – GDM) (được thảo luận ở Chương 22).
27.2. Dịch Tễ Học Về Tình Trạng Thừa Cân Và Béo Phì Ở Phụ Nữ Trong Thời Kỳ Mang Thai
Tỷ lệ hiện mắc (prevalence) tình trạng béo phì ở bà mẹ đã liên tục gia tăng trên toàn thế giới trong vài thập kỷ qua. Mặc dù dữ liệu giám sát trên toàn quần thể dành riêng cho thai kỳ còn hạn chế ở một số khu vực trên thế giới, nhưng các dữ liệu gần đây chỉ ra rằng, trên toàn cầu, có chưa đến một nửa số phụ nữ bị thừa cân (overweight) và cứ tám người thì có một người bị béo phì. Với sự nhận thức ngày càng tăng về tác động của thừa cân và béo phì đối với các kết cục của mẹ và trẻ sơ sinh (maternal and newborn outcomes), cũng như những hậu quả lâu dài đối với bà mẹ và thế hệ con của họ (offspring), sự quan tâm đến các công cụ giám sát và các chương trình dự phòng đang ngày càng gia tăng.
Hệ thống phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO) được sử dụng rộng rãi cho các mục đích lâm sàng, giám sát và nghiên cứu. WHO phân loại béo phì là chỉ số BMI [được tính bằng công thức Cân nặng (kg) / Chiều cao (m)²] từ 30,0 trở lên, và thừa cân là chỉ số BMI từ 25,0 đến 29,9. Béo phì được chia tiếp thành Độ I (30,0 – 34,9), Độ II (35,0 – 39,9) và Độ III (40,0 trở lên). Béo phì cực độ (extreme obesity) được định nghĩa là mức BMI trước khi mang thai từ 50,0 trở lên. Tình trạng này dẫn đến nhiều biến chứng hơn nữa, với tỷ số chênh (odds ratios – ORs) cao hơn đối với nhiều biến chứng sẽ được thảo luận trong chương này. Do sự gia tăng đáng kể của tổng lượng nước trong cơ thể (total body water) trong thai kỳ, BMI là một thước đo ít hữu ích hơn trong lúc mang thai, và BMI trước khi mang thai thường được sử dụng để đánh giá nguy cơ, đồng thời hướng dẫn các khuyến nghị và quản lý lâm sàng trong thời kỳ mang thai. Hơn nữa, mặc dù các phân loại này hữu ích cho việc giám sát, nghiên cứu và tư vấn về rủi ro, nhưng các yếu tố nguy cơ bổ sung ở một bệnh nhân cụ thể có thể tác động lớn đến nguy cơ mắc bệnh hoặc biến chứng hơn là một chỉ số BMI đơn lẻ tại bất kỳ thời điểm nào.
Tại Hoa Kỳ, những nỗ lực nhằm cải thiện việc giám sát tình trạng thừa cân và béo phì ở bà mẹ đã dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về mặt dịch tễ học đối với đại dịch này. Năm 2003, việc triển khai bản sửa đổi giấy khai sinh tại 47 tiểu bang và Đặc khu Columbia ở Hoa Kỳ nhằm báo cáo chiều cao và cân nặng trước khi mang thai trên giấy khai sinh đã mang lại khả năng theo dõi các xu hướng về chỉ số BMI trước khi mang thai ở đa số các vùng tại Hoa Kỳ, và gần đây nhất là báo cáo cho 100% các ca sinh vào năm 2021. Mặc dù BMI có thể bị ước tính thấp hơn một chút trong các dữ liệu tự báo cáo này, nhưng các ước tính trên toàn quần thể được chấp nhận rộng rãi và cho thấy rõ các xu hướng, chẳng hạn như sự gia tăng của tình trạng béo phì trước khi mang thai ở phần lớn các tiểu bang có dữ liệu trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến 2014. Vào năm 2021, 58,3% phụ nữ ở Hoa Kỳ bị thừa cân hoặc béo phì trước khi mang thai và 24,8% bị béo phì; béo phì trước khi mang thai gia tăng cùng với số lần sinh (parity) và có xu hướng xuất hiện nhiều nhất ở phụ nữ người Mỹ bản địa/Bản địa Alaska không gốc Tây Ban Nha, phụ nữ gốc Tây Ban Nha và phụ nữ da đen không gốc Tây Ban Nha. Một phương pháp phổ biến khác để ước lượng tình trạng béo phì trước khi mang thai ở Hoa Kỳ là Khảo sát Kiểm tra Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia (National Health and Nutrition Examination Survey – NHANES), báo cáo cho thấy 39,7% phụ nữ trong độ tuổi từ 20 đến 39 bị béo phì vào năm 2017-2018, tăng 10% trong vòng 10 năm, dựa trên chiều cao và cân nặng được đo lường thực tế. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (Center for Disease Control and Prevention – CDC) đã phát triển một cơ sở dữ liệu thân thiện với người dùng để cung cấp nhiều loại dữ liệu cho công chúng. Hệ thống Dữ liệu Trực tuyến Mở rộng phục vụ Nghiên cứu Dịch tễ học (Wide-ranging ONline Data for Epidemiologic Research – CDC WONDER) cho phép hình dung rõ ràng về sự chênh lệch trong tỷ lệ béo phì giữa các phụ nữ mang thai, với tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở người Samoa (65%), người Mỹ bản địa và Bản địa Alaska (41%), người da đen (40%) và người Hawaii (38%) (Hình 27.1).

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ