Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ
CHƯƠNG 10. HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG VÀ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA: CÁC NGUY CƠ TRONG GIAI ĐOẠN MUỘN CỦA CUỘC ĐỜI
AISHA SHEIKH
Giới Thiệu
Hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic Ovary Syndrome – PCOS) là tình trạng bệnh lý nội tiết – chuyển hóa – sinh sản thường gặp nhất ảnh hưởng đến nữ giới trong độ tuổi sinh sản. Hội chứng buồng trứng đa nang có mối liên hệ mật thiết với các rối loạn chuyển hóa như béo phì và tình trạng kháng insulin (Insulin Resistance – IR), đóng vai trò trung tâm trong cơ chế bệnh sinh của bệnh. Một tỷ lệ lớn nữ giới mắc hội chứng buồng trứng đa nang bị béo phì hoặc thừa cân và có biểu hiện kháng insulin kèm theo tăng insulin máu bù trừ, điều này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một số đặc điểm kiểu hình của hội chứng buồng trứng đa nang và, kết hợp với tình trạng rối loạn chức năng tế bào beta, làm tăng nguy cơ phát triển các bất thường chuyển hóa khác như đái tháo đường type 2 (Type 2 Diabetes Mellitus – T2DM), tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và các bệnh lý tim mạch (Cardiovascular Diseases – CVD). Mặt khác, một nhóm nhỏ những phụ nữ có thể trạng gầy mắc hội chứng buồng trứng đa nang cũng biểu hiện tình trạng kháng insulin.
Hội chứng chuyển hóa (Metabolic Syndrome – MetS) là một nhóm các khiếm khuyết trong chuyển hóa glucose và lipid, bao gồm béo phì trung tâm, rối loạn dung nạp glucose, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp. Đây là một yếu tố nguy cơ đã được chứng minh rõ ràng đối với đái tháo đường type 2 và bệnh lý tim mạch. Kháng insulin và béo phì trung tâm đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của cả hội chứng chuyển hóa và hội chứng buồng trứng đa nang. Trên toàn cầu, một số định nghĩa về hội chứng chuyển hóa đang được sử dụng dựa trên sự hiện diện của nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch ở một cá nhân (Bảng 10.1). Các nghiên cứu khảo sát hội chứng chuyển hóa trong hội chứng buồng trứng đa nang đã sử dụng một hoặc một vài tiêu chí này để tìm ra tỷ lệ hiện mắc hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng nghiên cứu của họ.
Bảng 10.1 Các Định Nghĩa Thường Được Sử Dụng Về Hội Chứng Chuyển Hóa Dựa Trên Các Tiêu Chí Khác Nhau
| Tiêu chí | NCEP-ATP III | Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) | Tiêu chí phối hợp (Joint criteria) |
|---|---|---|---|
| Yêu cầu bắt buộc | Không có | Béo phì: Vòng bụng ≥ 80 cm ở nữ giới (Nam Á, Trung Quốc ≥ 80 cm ở nữ giới, Nhật Bản ≥ 90 cm ở nữ giới) | Không có |
| Số lượng bất thường | ≥ 3 trong số các tiêu chí dưới đây: | Kèm theo ≥ 2 trong số các tiêu chí dưới đây: | ≥ 3 trong số các tiêu chí dưới đây: |
| Vòng bụng (WC) | ≥ 88 cm ở nữ giới | (Như trên) | Định nghĩa đặc thù theo quần thể và quốc gia |
| Triglycerides | ≥ 150 mg/dL (1,7 mmol/L) | ≥ 150 mg/dL (1,7 mmol/L) | ≥ 150 mg/dL (1,7 mmol/L) |
| HDL cholesterol | < 50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ giới | < 50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ giới | < 50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ giới |
| Huyết áp | ≥ 130/85 mm Hg | ≥ 130/85 mm Hg | ≥ 130/85 mm Hg |
| Glucose | ≥ 110 mg/dL (6,1 mmol/L) | ≥ 100 mg/dL (5,6 mmol/L) | ≥ 100 mg/dL (5,6 mmol/L) |
(Chú thích: HDL: Lipoprotein tỷ trọng cao; NCEP-ATP III: Chương trình Giáo dục Cholesterol Quốc gia, Hội đồng Điều trị Người lớn III; WC: Vòng bụng).
Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang Và Béo Phì
Hội chứng buồng trứng đa nang là một tình trạng có liên quan đến béo phì, kháng insulin và các nguy cơ chuyển hóa tim mạch, mặc dù những đặc điểm này không cấu thành một phần của tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang. Nữ giới mắc hội chứng buồng trứng đa nang có nguy cơ thừa cân hoặc béo phì cao hơn và có tỷ lệ béo phì trung tâm cao hơn (tỷ suất nguy cơ 1,73) so với nữ giới khỏe mạnh. Vẫn chưa rõ ràng về việc liệu hội chứng buồng trứng đa nang gây ra tăng cân và béo phì hay béo phì có liên quan đến sự phát triển của hội chứng buồng trứng đa nang. Tăng cân và béo phì góp phần vào sự phát triển của hội chứng buồng trứng đa nang thông qua việc làm trầm trọng thêm tình trạng kháng insulin như một trong những cơ chế sinh lý bệnh, dẫn đến rối loạn dung nạp glucose (Impaired Glucose Tolerance – IGT) và nguy cơ đái tháo đường type 2. Trên thực tế, những phụ nữ có khuynh hướng di truyền dễ mắc bệnh nếu tăng cân trong suốt cuộc đời sẽ có nguy cơ phát triển các biểu hiện của hội chứng buồng trứng đa nang cao hơn nhiều. Mối liên quan giữa hội chứng buồng trứng đa nang và béo phì thể hiện rõ qua các nghiên cứu dịch tễ học tiết lộ rằng phần lớn bệnh nhân (38%–88%) mắc hội chứng buồng trứng đa nang bị thừa cân hoặc béo phì. Chủ yếu, béo phì trung tâm hoặc béo phì tạng (vùng bụng) thường được quan sát thấy ở những bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang bất kể chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index – BMI) của họ. Béo phì làm trầm trọng thêm các rối loạn nội tiết và các hậu quả chuyển hóa, không chỉ làm xấu đi các đặc điểm lâm sàng của hội chứng buồng trứng đa nang mà còn dẫn đến việc làm giảm kết cục sinh sản và làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường type 2 và bệnh lý tim mạch. Mặt khác, ngay cả việc giảm cân khiêm tốn chỉ 5% trọng lượng cơ thể kèm theo sự cải thiện độ nhạy insulin thường mang lại những lợi ích lâm sàng đáng kể về các đặc điểm cường androgen, sinh sản và chuyển hóa. Tuy nhiên, cũng rõ ràng rằng, độc lập với béo phì và khối lượng mỡ, hội chứng buồng trứng đa nang vốn có liên quan đến các sai lệch về chuyển hóa bao gồm kháng insulin, rối loạn lipid máu và bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (Nonalcoholic Fatty Liver Disease – NAFLD).
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ