Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ
CHƯƠNG 16. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG: GIẢM CÂN
SARAH NADEEM VÀ ASMA ALTAF HUSSAIN MERCHANT
Ý NGHĨA CỦA CÂN NẶNG TRONG HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG
Hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome – PCOS) là một hội chứng với các biểu hiện nguyên phát là chu kỳ kinh nguyệt không đều và cường androgen (hyperandrogenism). Nhóm hội thảo đồng thuận Rotterdam năm 2003 đã sửa đổi các hướng dẫn trước đây về việc chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang. Dựa trên tiêu chuẩn Rotterdam, chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang có thể được xác lập nếu một phụ nữ có hai trong số ba tiêu chuẩn sau đây (sau khi đã loại trừ các chẩn đoán thứ phát, vì hội chứng buồng trứng đa nang là một chẩn đoán loại trừ):
- Thiểu kinh/không rụng trứng (Oligomenorrhea/anovulation)
- Cường androgen (bằng chứng lâm sàng và/hoặc sinh hóa của tình trạng cường androgen):
- Lâm sàng: Rậm lông (Hirsutism), mụn trứng cá, và/hoặc bệnh gai đen (acanthosis nigricans)
- Sinh hóa: Nồng độ testosterone tăng cao, nồng độ testosterone tự do nhạy hơn so với nồng độ testosterone toàn phần, và/hoặc tăng androstenedione và/hoặc dehydroepiandrosterone sulfate (DHEA-S)
- Buồng trứng đa nang trên siêu âm (≥ 12 nang có đường kính 2-9 mm ở một buồng trứng hoặc thể tích buồng trứng > 10 cc) với việc loại trừ các nguyên nhân khác (tăng sản thượng thận bẩm sinh, khối u tiết androgen, hội chứng Cushing)
Phần lớn (50% – 80%) bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng buồng trứng đa nang trên lâm sàng bị thừa cân (chỉ số khối cơ thể [body mass index – BMI] từ 25 – 30 kg/m2) hoặc béo phì (BMI lớn hơn 30 kg/m2). Đối với tất cả phụ nữ ở độ tuổi từ 25 đến 35, bao gồm cả những người mắc hội chứng buồng trứng đa nang, cân nặng tối ưu được xác định là khi BMI nhỏ hơn 24 kg/m2. Trong một phân tích gộp, ở những bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang trên 35 tuổi, tỷ lệ mang thai được ghi nhận giảm đáng kể tại điểm cắt BMI là 18 – 20 kg/m2 (Tỷ số chênh OR = 0,6969, Khoảng tin cậy 95% CI [0,4947, 0,9817]). Ở những bệnh nhân không mắc hội chứng buồng trứng đa nang trên 35 tuổi, không có điểm cắt đáng kể nào giữa BMI và tỷ lệ mang thai. Trên toàn thế giới, khi tỷ lệ hiện mắc (prevalence) béo phì gia tăng, tỷ lệ hiện mắc béo phì ở bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang cũng tăng mạnh, từ 51% trong những năm 90 lên 74% trong những thập kỷ sau đó. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là tồn tại một tỷ lệ nhỏ phụ nữ có BMI nhỏ hơn hoặc bằng 25 kg/m2 đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán của hội chứng buồng trứng đa nang. Hiện tượng này được gọi là “PCOS thể gầy” (lean PCOS) và có tỷ lệ hiện mắc tổng thể từ 1,5% đến 6,6%, tùy thuộc vào các sắc tộc khác nhau. Bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang thể gầy có nguy cơ tiến triển kháng insulin (insulin resistance – IR), đái tháo đường type 2 (type 2 diabetes mellitus – T2DM), và các bệnh đồng mắc khác thấp hơn.
Có một số cơ chế góp phần vào sự tiến triển béo phì theo thời gian ở một bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang (Hình 16.1). Tình trạng béo phì hệ quả tạo ra cơ địa dễ mắc các rủi ro gia tăng của các bệnh đồng mắc liên quan, chẳng hạn như tiền đái tháo đường, đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, và ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn (obstructive sleep apnea). Đặc điểm phổ biến nhất của hội chứng buồng trứng đa nang vẫn là tình trạng kháng insulin, góp phần tạo ra nhiều biểu hiện đa dạng. Tăng insulin máu (Hyperinsulinemia) dẫn đến sự phát triển hội chứng chuyển hóa trong hội chứng buồng trứng đa nang với sự điều hòa giảm (downregulation) của các thụ thể insulin, tăng acid béo tự do và nồng độ lipid nội bào, cũng như sự thay đổi hoạt động của chính nó thông qua sự lưu thông của yếu tố hoại tử khối u-alpha (TNF-alpha) và interleukin-6 (IL-6).
Đạt được và duy trì một mức cân nặng khỏe mạnh tối ưu là một thành phần chính trong việc điều trị hội chứng buồng trứng đa nang với kết quả là cải thiện độ nhạy insulin và giảm các triệu chứng của cường androgen và không rụng trứng.

Hình 16.1: Cơ chế Bệnh sinh và Các Cơ chế Liên quan đến Hội chứng Buồng trứng Đa nang và Béo phì. ĐTĐ, Đái tháo đường; THA, Tăng huyết áp; BGTKDR, Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu; NGNTKN, Ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn; SHBG, Globulin gắn hormone sinh dục.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ