Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

U Tân sinh Đường mật, ấn bản 2026. CHƯƠNG 5. GIẢI ÁP ĐƯỜNG MẬT

68 phút đọc

U Tân sinh Đường mật, ấn bản 2026 (Biliary Tract Neoplasms, First Edition) – (C) 2026 Nhà xuất bản Elsevier.
Chủ biên: GS.TS.BS. Timothy M. Pawlik, GS.TS.BS.Shishir K. Maithel
Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ths.Bs. Nguyễn Viết Bình, Ts.BS. Nguyễn Văn Đăng, TS.BS. Nguyễn Huy Toàn, TS.BS. Nguyễn Văn Thuỷ, Ts.BS. Nguyễn Hải Hoàng, BSCKII. Trần Huy Kính, Ths.Bs. Nguyễn Ngọc Tuấn Anh


U TÂN SINH ĐƯỜNG MẬT (Biliary Tract Neoplasms)


CHƯƠNG 5. GIẢI ÁP ĐƯỜNG MẬT

M. Rousian¹, E.J. van Helden², B. Groot Koerkamp¹, W. Lammers², và V.M.T. van Verschuer¹

¹ Khoa Ngoại khoa, Viện Ung thư Erasmus MC, Rotterdam, Hà Lan. ² Khoa Tiêu hoá và Gan mật, Viện Ung thư Erasmus MC, Rotterdam, Hà Lan.


5.1 Giới Thiệu

Các bệnh lý ung thư đường mật bao gồm ung thư biểu mô đường mật (cholangiocarcinoma) và ung thư túi mật (gallbladder cancer). Những khối u tân sinh (neoplasms) này thường dẫn đến tắc nghẽn ống mật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh do tình trạng vàng da (jaundice), chán ăn (anorexia), ngứa (pruritus), phân mỡ (steatorrhea) và suy mòn (cachexia). Tình trạng tắc nghẽn đường mật tiến triển hoặc kéo dài có thể dẫn đến viêm đường mật (cholangitis), suy giảm chức năng gan, và cuối cùng là xơ gan do ứ mật thứ phát (secondary biliary cirrhosis). Tình trạng này cũng có thể dẫn đến mất nước và suy thận cấp. Do đó, thủ thuật giải áp đường mật thường được yêu cầu để đảm bảo an toàn cho phẫu thuật cắt bỏ khối u và để chăm sóc giảm nhẹ thích hợp khi không thể phẫu thuật cắt bỏ.

Chiến lược giải áp ưu tiên đối với tắc nghẽn đường mật ác tính phụ thuộc vào vị trí tắc nghẽn và mục đích điều trị. Vị trí tắc nghẽn đường mật ngoài gan nói chung có thể được chia thành tắc nghẽn vùng rốn gan và vùng xa. Theo giải phẫu học kinh điển, vị trí đổ vào của ống cổ túi mật đánh dấu ranh giới giải phẫu giữa ống mật vùng xa và ống mật vùng gần. Tuy nhiên, định nghĩa này dường như không rõ ràng do sự biến thiên lớn về vị trí giải phẫu của ống cổ túi mật. Tắc nghẽn đường mật vùng xa ác tính (malignant distal biliary obstruction) chủ yếu do ung thư tuyến tụy, ung thư biểu mô đường mật vùng xa (distal cholangiocarcinoma), ung thư bóng Vater (ampullary cancer) hoặc ung thư tá tràng gây ra. Tắc nghẽn vùng rốn gan ác tính nằm gần hoặc liên quan đến chỗ hợp lưu của ống gan trái và ống gan phải. Tắc nghẽn đường mật vùng rốn gan ác tính (malignant hilar biliary obstruction) chủ yếu do ung thư biểu mô đường mật quanh rốn gan (perihilar cholangiocarcinoma), ung thư túi mật (gallbladder cancer) hoặc ung thư biểu mô đường mật trong gan (intrahepatic cholangiocarcinoma) phát triển lan rộng về phía rốn gan. Ít gặp hơn, nguyên nhân có thể do di căn từ ung thư đại trực tràng hoặc các di căn gan khác. Nhìn chung, tắc nghẽn vùng rốn gan đòi hỏi các can thiệp có kỹ thuật phức tạp hơn so với tắc nghẽn vùng xa.

Các phương pháp tiếp cận để giải áp đường mật bao gồm đường nội soi và đường xuyên gan qua da. Trong kỹ thuật dẫn lưu đường mật qua nội soi (endoscopic biliary drainage), các stent được đặt từ đường tiêu hóa. Quá trình này thường được thực hiện theo đường đi qua bóng Vater ngược dòng nhưng cũng có thể được thực hiện xuôi dòng xuyên qua dạ dày hoặc tá tràng. Kỹ thuật nội soi tiêu chuẩn vàng để giải áp đường mật là nội soi mật tụy ngược dòng (endoscopic retrograde cholangiopancreatography) kèm đặt stent đường mật. Nếu nội soi mật tụy ngược dòng không thành công, các kỹ thuật dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi (endoscopic ultrasound) có thể được sử dụng theo cả hai hướng xuôi dòng và ngược dòng. Một giải pháp thay thế khác cho dẫn lưu đường mật qua nội soi là dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da (percutaneous biliary drainage). Dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da bao gồm một số kỹ thuật xuôi dòng liên quan đến dẫn lưu trong hoặc dẫn lưu ngoài. Trong dẫn lưu ngoài, dịch mật từ ống mật nằm ở phía trước chỗ hẹp được chuyển ra ngoài cơ thể vào một túi chứa. Dẫn lưu trong liên quan đến việc luồn một ống dẫn lưu xuyên gan qua da đi qua chỗ hẹp đi vào tá tràng, cho phép dịch mật chảy vào bên trong đường tiêu hoá. Một phương pháp tiếp cận xuyên gan qua da khác là đặt stent xuyên gan qua da tiên phát (primary percutaneous stenting). Kỹ thuật này bao gồm việc đặt một stent kim loại tự nong (self-expandable metal stent) đi ngang qua chỗ tắc nghẽn đường mật vùng rốn gan ác tính mà không đi qua bóng Vater. Lợi ích của việc bảo tồn nguyên vẹn bóng Vater là hệ thống cây đường mật không bị các vi khuẩn đường ruột xâm nhập. Điều này giúp mang lại kết quả là có ít các biến chứng nhiễm trùng hơn, đặc biệt là giảm thiểu đáng kể nguy cơ viêm đường mật. Hơn nữa, viêm tụy sau can thiệp cũng được phòng ngừa một cách hiệu quả khi sử dụng bất kỳ phương pháp tiếp cận xuyên gan qua da nào. Việc để lại một ống dẫn lưu mật ra ngoài sau khi đặt stent xuyên gan qua da tiên phát là một lựa chọn không bắt buộc; thay vào đó, đường chọc kim xuyên gan có thể được bịt kín lại bằng keo cầm máu hoặc bọt cầm máu, chẳng hạn như sản phẩm Avitene TM (BD, Warwick, RI, Hoa Kỳ). Việc không lưu lại ống dẫn lưu ngoài giúp làm giảm thêm nguy cơ mắc các biến chứng nhiễm trùng.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ