U Tân sinh Đường mật, ấn bản 2026 (Biliary Tract Neoplasms, First Edition) – (C) 2026 Nhà xuất bản Elsevier.
Chủ biên: GS.TS.BS. Timothy M. Pawlik, GS.TS.BS.Shishir K. Maithel
Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ths.Bs. Nguyễn Viết Bình, Ts.BS. Nguyễn Văn Đăng, TS.BS. Nguyễn Huy Toàn, TS.BS. Nguyễn Văn Thuỷ, Ts.BS. Nguyễn Hải Hoàng, BSCKII. Trần Huy Kính, Ths.Bs. Nguyễn Ngọc Tuấn Anh

U TÂN SINH ĐƯỜNG MẬT (Biliary Tract Neoplasms)
CHƯƠNG 13. TRÌNH TỰ ĐIỀU TRỊ CÁC UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT CÓ KHẢ NĂNG CẮT BỎ
Ranish K Patel và Flavio G Rocha
Phân khoa Ung thư Ngoại khoa, Viện Ung thư Knight, Đại học Y tế và Khoa học Oregon, Portland, OR, Hoa Kỳ
13.1 Giới Thiệu
Các ung thư đường mật (Biliary Tract Cancers – BTC) đại diện cho một nhóm không đồng nhất các khối u ác tính xâm lấn bao gồm ung thư túi mật (Gallbladder Cancer – GBC), ung thư biểu mô đường mật (Cholangiocarcinoma), và ung thư bóng Vater (Ampullary Cancer). Ung thư biểu mô đường mật (Cholangiocarcinomas – CCA), đại diện cho các bệnh ung thư bắt nguồn từ chính cây đường mật, được phân loại chi tiết hơn dựa trên vị trí giải phẫu. Ung thư biểu mô đường mật trong gan (Intrahepatic Cholangiocarcinomas – iCCA) phát sinh ở vị trí gần gốc so với mức của các ống mật cấp hai. Ung thư biểu mô đường mật ngoài gan (Extrahepatic Cholangiocarcinomas – eCCA) phát sinh ở vị trí xa so với các ống mật cấp hai và được chia nhỏ tiếp thành ung thư biểu mô đường mật vùng rốn gan (Perihilar – pCCA) và vùng ống mật chủ đoạn xa (Distal – dCCA) dựa trên vị trí của chúng so với ngã ba ống túi mật và ống gan chung.
Mặc dù nhìn chung tương đối hiếm gặp, tỷ lệ mắc mới của các ung thư đường mật thay đổi rất lớn tùy thuộc vào các yếu tố địa lý và kinh tế xã hội. Tỷ lệ mắc mới của ung thư biểu mô đường mật thấp ở các quốc gia có thu nhập cao (0,35 – 2 ca trên 1.000.000 người mỗi năm), mặc dù tỷ lệ này cao gấp 40 lần ở các khu vực lưu hành dịch tễ thuộc Đông Nam Á. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc mới của ung thư đường mật đang gia tăng ở các nước có thu nhập cao, phần lớn được thúc đẩy bởi sự gia tăng tỷ lệ mắc ung thư biểu mô đường mật trong gan, và ở mức độ thấp hơn là sự gia tăng ung thư biểu mô đường mật ngoài gan; tuy nhiên, tỷ lệ mắc mới của ung thư túi mật vẫn tương đối ổn định (Valle và cộng sự, 2021).
Phẫu thuật cắt bỏ là phương thức điều trị mang tính triệt căn duy nhất đối với người bệnh mắc ung thư đường mật. Tuy nhiên, do bệnh cảnh lâm sàng tiến triển âm thầm, có từ 70% đến 80% người bệnh đến khám ở giai đoạn muộn, bệnh không thể cắt bỏ, và có thời gian sống thêm toàn bộ trung bình (Overall Survival – OS) chỉ khoảng 1 năm, ngay cả trong kỷ nguyên của các phác đồ điều trị nội khoa toàn thân hiện đại (Oh và cộng sự, 2024). Hơn nữa, ở một nhóm thiểu số những người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh ở giai đoạn sớm và trải qua phẫu thuật cắt bỏ với mục đích triệt căn, có tới 60% đến 70% cuối cùng sẽ trải qua tình trạng tái phát khối u (Zhang và cộng sự, 2018), dẫn đến tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau mổ 5 năm đạt dưới 50%, và tỷ lệ sống thêm toàn bộ 5 năm chỉ từ 5% đến 15% khi gộp chung tất cả các loại ung thư đường mật và các giai đoạn lại với nhau (Lamarca và cộng sự, 2020b). Do đó, ngay cả khi được quản lý ngoại khoa trong kịch bản tốt nhất, thời gian sống thêm nhìn chung vẫn rất kém, và các chiến lược nhằm cải thiện tỷ lệ sống thêm đang được đặt ra vô cùng cấp thiết.
Các liệu pháp điều trị chu phẫu đã thu hút được sự quan tâm như một chiến lược điều trị có thể được tích hợp với quản lý ngoại khoa tiêu chuẩn cho những người bệnh ung thư đường mật có khả năng cắt bỏ, nhằm cải thiện các kết cục ung thư học sau khi phẫu thuật cắt bỏ triệt căn. Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù chúng ta ngày càng hiểu biết hơn về các sai lệch phân tử và sự khác biệt về mặt sinh học làm cho mỗi khối u ác tính này trở nên độc nhất so với các khối u khác (Kam và cộng sự, 2021; Lamarca và cộng sự, 2020a; Scott và cộng sự, 2022), hầu hết các thử nghiệm đều gộp chung các ung thư đường mật khác nhau lại với nhau để tối đa hóa cỡ mẫu và cải thiện độ mạnh thống kê nhằm đánh giá các kết cục chính. Trong chương này, chúng tôi tóm tắt và nhấn mạnh các nghiên cứu đáng chú ý và đang diễn ra nhằm khảo sát cả liệu pháp điều trị bổ trợ và tân bổ trợ trong việc quản lý ung thư đường mật có khả năng cắt bỏ.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ