Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Sổ tay Hình ảnh học Nội tiết (2026). CHƯƠNG 7. THIẾU HỤT SUCCINATE DEHYDROGENASE

40 phút đọc

Sổ tay Hình ảnh học Nội tiết (2026). Practical Handbook of Endocrine Imaging. Copyright © 2026 by Elsevier Inc. 
Chủ biên: Joseph M. Pappachan, Anju Sahdev, Katherine Ordidge – Dịch và chú giải: Bs Lê Đình Sáng.
Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến trên các website yhoclamsang.net & sachyhoc.com của Thư viện Medipharm vì mục đích phi lợi nhuận.


CHƯƠNG 7. THIẾU HỤT SUCCINATE DEHYDROGENASE

Katherine Ordidge¹, Joseph M Pappachan²³⁴, Cornelius James Fernandez⁵ và Anju Sahdev¹

¹ Bệnh viện St. Bartholomew, Quỹ Y tế Quốc gia Bart, London, Vương quốc Anh
² Khoa Khoa học, Đại học Manchester Metropolitan, Manchester, Vương quốc Anh
³ Khoa Nội tiết và Chuyển hóa, Quỹ Y tế Quốc gia Bệnh viện Giảng dạy Lancashire (LTHTR), Preston, Vương quốc Anh
⁴ Bệnh viện Pilgrim, Boston, Vương quốc Anh


Giới Thiệu

Succinate dehydrogenase (SDH) là một enzyme của chu trình Krebs nằm trên màng trong ty thể. Enzyme này xúc tác cho quá trình oxy hóa succinate thành fumarate, và thông qua đó cung cấp các electron cho bể chứa ubiquinone của chuỗi hô hấp. Phức hợp SDH (SDHx) bao gồm bốn tiểu đơn vị, và các gen khác nhau (SDHA, SDHB, SDHC, và SDHD) sẽ làm nhiệm vụ mã hóa từng tiểu đơn vị riêng biệt này. Một gen thứ năm, SDHAF2, mã hóa cho yếu tố lắp ráp SDHx 2 (SDHx assembly factor 2), đóng vai trò thiết yếu để duy trì chức năng bình thường của tiểu đơn vị SDHA. SDHx bình thường hoạt động như các gen ức chế khối u (tumor suppressor genes). Sự đột biến của các gen này dẫn đến quá trình sinh ung thư (oncogenesis) ở nhiều cơ quan khác nhau. Những khối u này bao gồm u tủy thượng thận (pheochromocytomas – PCC) và u cận hạch (paragangliomas – PGL), u mô đệm dạ dày ruột (gastrointestinal stromal tumors – GIST), ung thư biểu mô tế bào thận (renal cell carcinomas – RCC), và u tuyến yên (pituitary adenomas) (Bảng 7.1). Y văn ghi nhận có đến 20% các u tủy thượng thận và u cận hạch (PPGL) bắt nguồn từ các biến thể SDHx.

Mặc dù cơ chế sinh ung thư (tumorigenesis) chính xác liên quan đến các đột biến gen SDHx vẫn chưa rõ ràng, các nhà khoa học đã đề xuất nhiều giả thuyết như sự tích tụ của “chất chuyển hóa gây ung thư” (“oncometabolite”) succinate, sự tạo ra các gốc tự do phản ứng (reactive oxygen species), và những thay đổi trong trạng thái oxy hóa khử của ty thể. Tất cả các yếu tố này đều có thể dẫn đến những biến đổi về cấu trúc và/hoặc chức năng của các protein nội bào và bộ máy DNA. Y học cũng ghi nhận rằng tùy thuộc vào các loại tế bào hoặc mô cụ thể, các biến thể gen SDH bị rối loạn chức năng có thể ngăn chặn hoặc thúc đẩy quá trình sinh ung thư, dựa trên mức độ dung nạp cao hay thấp của chúng đối với những rối loạn chuyển hóa do chính đột biến đó gây ra.

Biểu Hiện Lâm Sàng

Đột biến gen gây ra các biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, với độ tuổi trung bình xuất hiện khối u đầu tiên khác nhau, các phân nhóm và vị trí khối u khác nhau, cũng như tiềm năng ác tính (malignant potential) khác nhau. Ví dụ, những người bệnh mang gen đột biến SDHD thường phát triển nhiều u cận hạch (PGL) hệ phó giao cảm ở vùng đầu và cổ, trong đó các u cận hạch ở nền sọ thường là loại không tiết hormone (non-secretory).

Bảng 7.1 Đột biến ở SDH, độ thâm nhập, tần suất đột biến và các khối u liên quan.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ