Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026). Chương 33. Chẩn đoán và Điều trị Mất ngủ

111 phút đọc

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026)
(Fundamentals of Sleep Medicine, 2nd Edition)
Tác giả: Richard B. Berry, Mary H. Wagner và Scott M. Ryals. Dịch & chú giải: BS. LÊ ĐÌNH SÁNG.
Bản dịch được chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. Nghiêm cấm thương mại hoá bản dịch này dưới bất kỳ hình thức nào.


Chương 33. Chẩn đoán và Điều trị Mất ngủ

Insomnia diagnosis and treatment 
Richard B. Berry, MD, FAASM; Mary H. Wagner, MD, FAASM; Scott M. Ryals, MD, FAASM

Fundamentals of Sleep Medicine, Chapter 33, 720-747


RỐI LOẠN MẤT NGỦ MẠN TÍNH (CHRONIC INSOMNIA DISORDER)

Mất ngủ (insomnia) được định nghĩa là tình trạng khó ngủ (khó đi vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ và/hoặc thức giấc quá sớm vào buổi sáng) dẫn đến các hệ quả vào ban ngày, với điều kiện là các vấn đề rối loạn ban đêm hoặc ban ngày này không thể giải thích đơn thuần bằng việc bệnh nhân không có đủ thời gian hoặc cơ hội để ngủ. Bản sửa đổi của Phiên bản thứ 3 thuộc Bảng Phân loại Quốc tế về Các Rối loạn Giấc ngủ (International Classification of Sleep Disorders, 3rd edition, text revision – ICSD-3-TR) chỉ chia thành ba rối loạn mất ngủ chính bao gồm: Rối loạn mất ngủ mạn tính (chronic insomnia disorder), Rối loạn mất ngủ ngắn hạn (short-term insomnia disorder), và Các rối loạn mất ngủ khác (other insomnia disorder). Ngoài ra, tài liệu này cũng định nghĩa hai triệu chứng thuộc phần “các triệu chứng đơn độc và biến thể bình thường” là: thời gian nằm trên giường quá mức (excessive time in bed) và người ngủ ngắn (short sleeper).

Các tiêu chuẩn chẩn đoán đối với Rối loạn mất ngủ mạn tính bao gồm (bệnh nhân phải đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn từ A đến F):

Tiêu chuẩn Chẩn đoán Rối loạn Mất ngủ Mạn tính
A. Bệnh nhân than phiền hoặc cha mẹ/người chăm sóc quan sát thấy một hoặc nhiều biểu hiện sau đây:
1. Khó đi vào giấc ngủ.
2. Khó duy trì giấc ngủ.
3. Thức giấc lần cuối cùng sớm hơn mong muốn.
4. Chống đối việc đi ngủ theo lịch trình phù hợp.
5. Khó ngủ nếu không có sự hiện diện hoặc can thiệp của cha mẹ/người chăm sóc.
B. Bệnh nhân than phiền hoặc cha mẹ/người chăm sóc quan sát thấy một hoặc nhiều biểu hiện sau đây liên quan đến tình trạng khó ngủ ban đêm:
1. Mệt mỏi hoặc khó chịu.
2. Suy giảm sự chú ý, khả năng tập trung hoặc trí nhớ.
3. Suy giảm hiệu suất trong các hoạt động xã hội, gia đình, nghề nghiệp hoặc học tập.
4. Rối loạn cảm xúc hoặc dễ cáu gắt.
5. Cảm giác buồn ngủ chủ quan.
6. Các vấn đề về hành vi (ví dụ: tăng động, bốc đồng, hung hăng).
7. Giảm động lực, năng lượng hoặc sự chủ động.
8. Dễ mắc sai sót hoặc tai nạn.
9. Lo lắng về hoặc không hài lòng với giấc ngủ.
C. Tình trạng than phiền về giấc ngủ không thể giải thích đơn thuần bằng việc thiếu cơ hội ngủ (không đủ thời gian dành cho việc ngủ) hoặc hoàn cảnh không phù hợp (không đảm bảo sự an toàn, bóng tối, sự yên tĩnh và sự thoải mái) cho giấc ngủ.
D. Tình trạng rối loạn giấc ngủ và các triệu chứng ban ngày liên quan xảy ra ít nhất ba lần mỗi tuần.
E. Tình trạng rối loạn giấc ngủ và các triệu chứng ban ngày liên quan đã kéo dài ít nhất 3 tháng.
F. Tình trạng rối loạn giấc ngủ và các triệu chứng ban ngày liên quan không chỉ do một rối loạn giấc ngủ, bệnh lý y khoa, rối loạn tâm thần, hoặc việc sử dụng thuốc/chất gây nghiện hiện tại khác gây ra.

Các thuật ngữ khác để chỉ rối loạn mất ngủ ngắn hạn bao gồm mất ngủ cấp tính (acute insomnia) và mất ngủ do rối loạn thích ứng (adjustment insomnia). Hệ thống ICSD-2 trước đây định nghĩa tám loại rối loạn mất ngủ, nhưng hiện tại chúng chỉ được phân loại thành các phân tuýp trong hệ thống ICSD-3 và ICSD-3-TR.

Bảng 33-1: Các Đặc điểm Chính của Các Phân tuýp Rối loạn Mất ngủ Mạn tính (Chronic Insomnia Disorder). 

Phân tuýp Mất ngủ (Insomnia Subtype) Đặc điểm Chính (Essential Features) Dấu hiệu Lâm sàng (Clinical Clues)
Mất ngủ Tâm sinh lý (Psychophysiologic) Lo âu về giấc ngủ. Giấc ngủ cải thiện ở môi trường mới lạ (xa nhà).
  Tăng mức độ thức tỉnh khi ở trên giường. Có thể ngủ thiếp đi khi ở bên ngoài phòng ngủ hoặc khi không cố gắng ngủ.
  Các liên kết có điều kiện ngăn cản giấc ngủ (phòng ngủ trở thành một kích thích cho sự tỉnh táo, không phải giấc ngủ).  
Mất ngủ Nghịch thường (Paradoxical) Những than phiền cực đoan và không hợp lý về mặt sinh lý: “Tôi không bao giờ ngủ”. Thời lượng giấc ngủ khách quan (Đa ký giấc ngủ, Ghi biểu đồ hoạt động) lớn hơn rất nhiều so với lời báo cáo.
  Bất chấp báo cáo về việc ngủ rất ít, mức độ suy giảm chức năng ban ngày tương đối nhẹ. Không có hoặc hiếm khi có các giấc ngủ ngắn ban ngày.
Mất ngủ Vô căn (Idiopathic) Khởi phát từ thời thơ ấu hoặc thanh thiếu niên. Mất ngủ kéo dài suốt đời không có giai đoạn thuyên giảm.
  Không xác định được yếu tố khởi phát. Khởi phát âm ỉ.
  Không có giai đoạn thuyên giảm kéo dài.  
Mất ngủ Liên quan đến Rối loạn Tâm thần Rối loạn tâm thần đã được chẩn đoán. Tình trạng mất ngủ biến động (tăng giảm) cùng với mức độ của rối loạn tâm thần.
  Có liên quan về mặt thời gian với rối loạn tâm thần (có thể xuất hiện trước vài ngày hoặc vài tuần).  
Vệ sinh Giấc ngủ Kém (Inadequate sleep hygiene) Lịch trình giấc ngủ không phù hợp. Giờ lên giường và giờ thức dậy biến thiên không đều.
  Sử dụng các sản phẩm gây xáo trộn giấc ngủ sát giờ đi ngủ. Ngủ ngắn ban ngày.
  Thực hiện các hoạt động kích thích sát giờ đi ngủ.  
  Sử dụng giường cho các hoạt động không phải để ngủ.  
Mất ngủ Hành vi ở Trẻ em – Tuýp Liên kết Giấc ngủ (Behavioral insomnia of childhood sleep-association type) Quá trình đi vào giấc ngủ kéo dài. Việc thức giấc vào ban đêm đòi hỏi phải có người chăm sóc để trẻ ngủ trở lại.
  Đòi hỏi phải có các liên kết khởi đầu giấc ngủ (ví dụ: được bế, võng, ti mẹ).  
  Nếu không có các yếu tố liên kết này, giấc ngủ sẽ bị trì hoãn.  
Mất ngủ Hành vi ở Trẻ em – Tuýp Rối loạn Thiết lập Giới hạn (Behavioral insomnia of childhood limit-setting type) Khó đi vào giấc ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ. Người chăm sóc thể hiện sự bất lực trong việc thiết lập giới hạn để định hình hành vi phù hợp.
  Từ chối lên giường đi ngủ hoặc từ chối quay lại giường sau khi thức giấc.  

(Phỏng theo Schutte-Rodin S, Broch L, Buysee D, et al. Hướng dẫn lâm sàng về đánh giá và quản lý chứng mất ngủ mạn tính ở người lớn. J Clin Sleep Med. 2008 4:487-504.)

Hệ thống ICSD-3 và ICSD-3-TR vẫn duy trì các phân tuýp này nhằm mục đích lưu trữ lịch sử và minh họa cho các nhóm triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân đến khám tại các trung tâm y học giấc ngủ. Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần phiên bản 5 (DSM-5) liệt kê rối loạn mất ngủ kèm theo các yếu tố xác định (specifiers) (đồng mắc với bệnh lý không phải rối loạn giấc ngủ, đồng mắc bệnh lý y khoa khác, đồng mắc rối loạn giấc ngủ khác) và các yếu tố xác định tiến trình thời gian (từng đợt, dai dẳng, tái phát). Các hệ thống phân loại khác chia thành mất ngủ nguyên phát và mất ngủ thứ phát. Tuy nhiên, thuật ngữ mất ngủ đồng mắc (comorbid insomnia) hiện được ưu tiên sử dụng hơn để chỉ các chứng mất ngủ thứ phát, bởi lẽ trên lâm sàng rất khó để xác định rạch ròi mối quan hệ nhân quả giữa mất ngủ và rối loạn đi kèm. Ví dụ, tình trạng mất ngủ có thể xuất hiện trước bệnh trầm cảm, tiến triển nặng hơn trong giai đoạn trầm cảm và vẫn tồn tại dai dẳng ngay cả khi bệnh trầm cảm đã thuyên giảm.

Rối loạn mất ngủ mạn tính theo định nghĩa của ICSD-3-TR bao hàm các đặc điểm của mất ngủ tâm sinh lý (psychophysiologic insomnia), mất ngủ vô căn (idiopathic insomnia), mất ngủ nghịch thường (paradoxical insomnia), mất ngủ liên quan đến rối loạn tâm thần, vệ sinh giấc ngủ kém, mất ngủ do thuốc hoặc hóa chất, mất ngủ do bệnh lý y khoa, và các chứng mất ngủ hành vi ở trẻ em (rối loạn thiết lập giới hạn hoặc rối loạn liên kết giấc ngủ). Tất cả những tình trạng này đều có thể được phân loại thành các phân tuýp của rối loạn mất ngủ mạn tính. Lý do các chuyên gia quyết định gộp các phân tuýp này thành một chứng rối loạn duy nhất là do việc chẩn đoán phân biệt giữa các phân tuýp trước đây thiếu tính đồng nhất. Cùng một bệnh nhân có thể được các bác sĩ lâm sàng chẩn đoán thành các phân tuýp khác nhau do sự chồng chéo về triệu chứng. Do đó, chẩn đoán rối loạn mất ngủ mạn tính hiện nay bao hàm tất cả các phân tuýp, bao gồm cả mất ngủ nguyên phát và thứ phát.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ