Viêm Tuyến Giáp – Chẩn đoán và Điều trị (2026) | Thyroiditis – Diagnosis and Therapeutic Management
Biên tập: Mahmoud Sakr – (C) 2026 Nhà xuất bản: Springer – Năm xuất bản: 2026.
Ths.Bs. Lê Đình Sáng: Dịch và chuyển thể tiếng Việt. Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này được xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên nền tảng yhoclamsang.net và sachyhoc.com của Thư viện Y học Medipharm.
CHƯƠNG 9. VIÊM TUYẾN GIÁP MẠN TÍNH: BỆNH HASHIMOTO
Chronic Thyroiditis: Hashimoto’s Disease
9.1 Tổng Quan
Viêm tuyến giáp Hashimoto (Hashimoto’s thyroiditis), còn được gọi là viêm tuyến giáp lympho bào mạn tính (chronic lymphocytic thyroiditis) và bướu giáp lympho bào (struma lymphomatosa), là một phần trong phổ các bệnh tuyến giáp tự miễn (Autoimmune thyroid diseases – AITDs), phổ bệnh này cũng bao gồm các biến thể sau: viêm tuyến giáp teo (atrophic thyroiditis), viêm tuyến giáp vị thành niên (juvenile thyroiditis), viêm tuyến giáp sau sinh (postpartum thyroiditis – PPT), viêm tuyến giáp thầm lặng (silent thyroiditis), và viêm tuyến giáp khu trú (focal thyroiditis).
Bệnh Hashimoto (hoặc viêm tuyến giáp Hashimoto) đặc trưng bởi tình trạng tuyến giáp phì đại lan tỏa, không đau, xảy ra chủ yếu ở phụ nữ trung niên. Bệnh nhân thường ở trạng thái bình giáp (euthyroid), nhưng tình trạng suy giáp (hypothyroidism) có thể dần dần tiến triển. Nhu mô tuyến giáp bị thay thế lan tỏa bởi các tế bào lympho xâm nhập và phản ứng xơ hóa. Bệnh nhân mắc viêm tuyến giáp Hashimoto có các kháng thể trong huyết thanh phản ứng với thyroglobulin (Tg), peroxidase tuyến giáp (thyroid peroxidase – TPO), và phản ứng với một loại protein chưa xác định có trong chất keo, dẫn đến sự phá hủy các tế bào tuyến giáp. Việc ngày càng sử dụng phổ biến sinh thiết bằng kim và các xét nghiệm huyết thanh học để tìm kháng thể đã giúp nhận diện căn bệnh này thường xuyên hơn rất nhiều. Hiện nay, đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy giáp ở Hoa Kỳ ở độ tuổi sau 6 tuổi.
Một bệnh nhân có bướu giáp (goiter) nhỏ và bình giáp không cần điều trị trừ khi nồng độ TSH tăng cao. Sự hiện diện của tuyến giáp lớn, bướu giáp phát triển liên tục, hoặc tình trạng suy giáp là chỉ định cần thiết để bắt đầu liệu pháp điều trị thay thế bằng hormone tuyến giáp. Phẫu thuật hiếm khi được chỉ định. Sự phát triển của u lympho (lymphoma), mặc dù rất hiếm gặp, phải được nghĩ đến nếu tuyến giáp bị tổn thương có sự tăng trưởng kích thước hoặc gây đau. Với việc chẩn đoán sớm, liệu pháp thay thế bằng L-T4 phù hợp, theo dõi chăm sóc bệnh nhân định kỳ, và chú ý phát hiện sớm cũng như quản lý các biến chứng, tiên lượng của bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto là rất tốt, bệnh nhân có thể có một cuộc sống hoàn toàn bình thường. Chương này đề cập đến một loạt các chủ đề liên quan đến bệnh Hashimoto, bao gồm dịch tễ học, giải phẫu bệnh, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt, mối liên quan với ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (papillary thyroid carcinoma), quản lý điều trị và tiên lượng.
9.2 Lược Sử
Theo các tiêu chí nghiêm ngặt, viêm tuyến giáp Hashimoto là một chẩn đoán mô học được mô tả lần đầu tiên bởi bác sĩ phẫu thuật người Nhật Bản Hakaru Hashimoto, người sinh ngày 5 tháng 5 năm 1881, tại ngôi làng Midai, Nishitsuge, thuộc tỉnh Mie, Nhật Bản. Ông tốt nghiệp Trường Y khoa Đại học Kyushu vào năm 1907. Hakaru Hashimoto cũng từng học tập tại Anh, nhưng khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, ông buộc phải trở về quê hương Nhật Bản. Năm 2013 đánh dấu kỷ niệm 100 năm ngày ông mô tả nguyên bản về “bướu giáp lympho bào” (những quan sát của ông về các đặc điểm mô học độc đáo, bao gồm sự xâm nhập của tế bào lympho, sự thay đổi ái toan ở các tế bào nang giáp và xơ hóa mô kẽ được mô tả ở bốn phụ nữ có bướu giáp đã được phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp). Công trình của ông được công bố trên một tạp chí của Đức vào năm 1912 và đã không được chú ý trong hơn 40 năm. Tại thời điểm đưa ra mô tả ban đầu, Hashimoto đã nhận ra rằng có một kích thích nào đó chịu trách nhiệm cho những thay đổi phản ứng mà ông ghi nhận được, nhưng ông thừa nhận rằng ông không biết bản chất của kích thích đó là gì. Do qua đời đột ngột vào ngày 9 tháng 1 năm 1934 (ở tuổi 52) vì bệnh thương hàn, ông không bao giờ có thể chứng kiến được tầm ảnh hưởng từ khám phá của mình.
Mãi cho đến năm 1956, mối liên hệ giữa các kháng thể chống lại tế bào tuyến giáp hiện diện trong huyết thanh của bệnh nhân và bệnh Hashimoto mới được thiết lập. Tuyến giáp là cơ quan đầu tiên mà ở đó nguyên nhân miễn dịch gây ra một quá trình bệnh lý đặc hiệu (viêm tuyến giáp Hashimoto) được mô tả. Theo thời gian, sự hiểu biết của chúng ta về các con đường miễn dịch liên quan đến viêm tuyến giáp Hashimoto ngày càng phát triển. Hiện nay, chúng ta đã nhận ra mối liên quan của căn bệnh này với các bệnh tự miễn khác và bệnh ung thư tuyến giáp.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ