SƠ LƯỢC VỀ PHÔI THAI VÀ GIẢI PHẪU BỘ MÁY TIẾT NIỆU
Phôi thai và giải phẫu học bộ máy tiết niệu đóng một vai trò quan trọng trong chẩn đoán
các bất thường bẩm sinh cũng như bệnh lý bộ máy tiết niệu.
Phôi thai
Bộ phận tạo thành thận trong tương lai là hậu thận tức là phần thấp nhất của một cấu trúc bao gồm tiền thận ở trên cao, trung thận ở giữa và hậu thận ở thấp nhất ( hình 1).
Trong quá trình phát triển chỉ có hậu thận tiếp tục phát triển nằm tương ứng ở vị trí ngang eo trên (S1, S2) còn tiền thận và trung thận teo đi. Mầm niệu quản xuất phát từ xoang niệu sinh dục đi lên và cắm vào mặt trước hậu thận.
Thận chính thức được hình thành từ tuần thứ 6 và bắt đầu thay đổi vị trí bằng cách xoay và đi lên đồng thời diễn ra cho đến khi có vị trí như bình thường trong hố thận ở người lớn. Lúc này rốn thận nằm ở mặt trước trong.
Khi có một bất thường trong quá trình xoay và đi lên này bao gồm sự thay đổi không hoàn toàn hay quá mức sẽ dẫn đến những bất thường về vị trí cao, thấp, hay bất thường quay hoặc phối hợp cả hai…
Ống niệu rốn (ouraque) bắt đầu từ góc trước trên bàng quang tới rốn. Bình thường sau khi trẻ chào đời ống này teo lại thành dải xơ gọi là dây chằng rốn bàng quang.
Bất thường của bộ máy sinh dục hay phối hợp với bất thường bộ máy tiết niệu liên quan mật thiết đến quá trình hình thành và phát triển tuyến sinh dục.

Giải phẫu
Thận ( hình 2)
Thận nằm sau phúc mạc trong hố thắt lưng, thận trái hơi cao hơn thận phải. Xương sườn 12 nằm chếch ở sau, bắt chéo khoảng vị trí giữa 1/3 trên và 1/3 giữa thận. Vị trí này có thể thay đổi khi thở, thận có thể lên cao hay xuống thấp tới 3 cm. Sự thay đổi này được ứng dụng khá nhiều trong kỹ thuật thăm dò và chẩn đoán.
Trục thận chếch xuống dưới ra ngoài và ra trước. ở lớp cắt ngang: rốn thận hướng ra trước và vào trong khoảng 40° đến 50° so với mặt phẳng trán.
Hình dáng thận thay đổi tùy theo lớp cắt, với các lớp cắt ngang từ trên xuống dưới: Cực trên thận có hình tròn, dần dần xuống có hình ô van rồi ngang qua rốn thận có hình giống móng ngựa mở vào phía trong và ra trước, khi dần xuống cực dưới hình dáng thận giống như ở cực trên.
Bao thận ( capsule) dính vào nhu mô thận tiếp đến là tổ chức mỡ quanh thận (khó thấy bao thận và tổ chức mỡ này ở người gầy) tiếp đến là mạc thận (bao xơ thận – bao Gérota) ngoài bao này là tổ chức mỡ cạnh thận ( bao gồm cả tổ chức mỡ sau phúc mạc, rốn thận). Các cấu trúc giải phẫu này rất quan trọng trong đánh giá xâm lấn của tổn thương nhất là ung thư.
Bờ thận thường rất nhẵn, đều. Thông thường thận múi bào thai sẽ không tồn tại ở tuổi trưởng thành. Bên trái đôi khi thấy thận hình bướu lạc đà do lách đè.
Kích thước thận: ở người lớn thận dài từ 9,5 đến 12 cm, dầy 3-4 cm, rộng 5-7 cm. Kích thước thận còn phụ thuộc vào tình trạng bài tiết, nó có thể to lên khi đang bài niệu mạnh, giảm đi khi có tuổi. Khi tồn tại thận đôi, chiều dài thận thường lớn hơn bình thường. Thận trái thường lớn hơn thận phải nhưng không vượt quá 2 cm. Khi có một thận teo hoặc giảm chức năng, thận bên đối diện thường lớn hơn kích thước bình thường do hoạt động bù. Hai thận có cấu trúc như nhau.

Hình 2. Sơ đồ cắt dọc thận và ngang qua rốn thận
a. Cột Bertin, b. Tháp thận, c. Xoang thận,d. Gai thận,e. Động mạch cung
1. Đoạn II tá tràng, 2. Tĩnh mạch thận phải, 3. Đầu tuỵ, 4. Tĩnh mạch mạc treo tràng trên, 5. Tĩnh mạch chủ dưới, 6. Động mạch mạc treo tràng trên, 7. Đoạn 4 tá tràng, 8. Tĩnh mạch thận trái, 9. Tĩnh mạch mạc treo tràng dưới, 10. Bể thận trái, 11. Thận trái, 12. Động
mạch thận phải, 13. Cơ đái chậu, 14. Cột hoành, 15. Dây thần kinh giao cảm, 16. Động mạch chủ, 17. ống ngực, 18. Động mạch thận trái.
Xoang thận có hình ô van giới hạn rõ với vùng nhu mô thận và hơi lồi lõm do các cột Bertin lấn vào. Đôi khi còn thấy xoang thận bị chia đôi ngăn cách bởi một dải nhu mô thận (trong trường hợp thận đôi).
Cắt ngang qua vùng giữa thận ta nhìn rõ lưỡi trước, lưỡi sau thận.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ