Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Điều trị Trầm cảm Kháng trị – Dược lý Thần kinh và Kích thích Thần kinh. CHƯƠNG 3. SINH HỌC THẦN KINH VÀ HÌNH ẢNH HỌC THẦN KINH CỦA TRẦM CẢM KHÁNG TRỊ

54 phút đọc

Điều trị Trầm cảm Kháng trị – Dược lý Thần kinh và Kích thích Thần kinh, ấn bản 2025 | Therapies for Treatment-Resistant Depression: Neuropharmacology and Neurostimulation 1st Edition | Chủ biên: James Murrough MD PhD, Dennis Charney MD | (C) Nhà xuất Bản ELSEVIER. 
Dịch và Chú giải tiếng Việt: Ths.BS. Lê Đình Sáng – BSCKII. Nguyễn Văn Phi 


CHƯƠNG 3. SINH HỌC THẦN KINH VÀ HÌNH ẢNH HỌC THẦN KINH CỦA TRẦM CẢM KHÁNG TRỊ

Sara Costi¹,²,³

¹Khoa Tâm thần học, Đại học Oxford, Oxford, Vương quốc Anh.
²Quỹ Chăm sóc Sức khỏe Oxford, Oxford, Vương quốc Anh.
³Khoa Tâm thần học, Trường Y khoa Icahn thuộc Mount Sinai, New York, NY, Hoa Kỳ.


3.1 Giới Thiệu

Rối loạn trầm cảm nặng (Major Depressive Disorder – MDD) là một tình trạng bệnh lý không đồng nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật trên toàn cầu. Bệnh gây tác động to lớn đến người bệnh và gia đình, minh chứng là tình trạng tàn phế đã làm mất đi tới 50.000 ngày sống khỏe mạnh. Mặc dù tỷ lệ hiện mắc của MDD rất cao, các lựa chọn điều trị vẫn còn hạn chế và phần lớn các thuốc này đều ra đời từ những phát hiện tình cờ trong vài thập kỷ qua. Trong các thử nghiệm lâm sàng, các thuốc chống trầm cảm thông thường nhắm vào hệ thống monoaminergic thất bại trong việc mang lại sự thuyên giảm ổn định ở 20%-30% người bệnh trầm cảm, và các nghiên cứu theo dõi tự nhiên cho thấy con số này có thể lên tới 40%-50%. Dù thế giới chưa có sự đồng thuận chung về định nghĩa trầm cảm kháng trị (treatment-resistant depression – TRD), nhưng y giới thường coi những người bệnh không đáp ứng với ít nhất hai phác đồ điều trị bằng thuốc chống trầm cảm (với liều lượng và thời gian thích hợp) là mắc TRD.

Về mặt lịch sử, sự hiểu biết về các rối loạn trầm cảm đã tiến triển đáng kể. Hippocrates từng đưa ra giả thuyết rằng chứng u sầu bắt nguồn từ sự dư thừa mật đen, một trong bốn chất dịch cơ bản của cơ thể. Thế kỷ 20 đã mang lại những tiến bộ vượt bậc trong việc thấu hiểu các yếu tố căn nguyên và sinh lý bệnh góp phần hình thành và duy trì MDD cũng như TRD. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các hệ thống dẫn truyền thần kinh, hệ thống nội tiết thần kinh, và giải phẫu não bộ cả về cấu trúc lẫn chức năng. Trong khi trầm cảm lâm sàng nhìn chung là một “rối loạn não bộ”, TRD còn là một bệnh lý toàn thân có mối liên hệ mật thiết với các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa. Y học ngày càng công nhận rõ hơn vai trò của tình trạng viêm toàn thân và hệ thống miễn dịch trong sinh lý bệnh của MDD và TRD.

3.2 Dẫn Truyền Thần Kinh Monoamine

Một giả thuyết nổi bật giải thích sinh lý bệnh của trầm cảm là thuyết monoamine, ra đời cách đây khoảng sáu mươi năm. Giả thuyết này cho rằng trầm cảm có liên quan đến sự suy giảm hoạt động chức năng của một hoặc nhiều monoamine, bao gồm serotonin, norepinephrine và dopamine. Các thuốc chống trầm cảm thế hệ thứ nhất và thứ hai nhắm vào hệ thống dẫn truyền thần kinh monoamine, giúp làm tăng nồng độ của các chất trung gian này trong khe xináp (synaptic space). Tuy nhiên, mối liên hệ giữa tín hiệu monoamine và TRD lại rất phức tạp và đa chiều. Mặc dù TRD xảy ra khi người bệnh không đáp ứng với các thử nghiệm điều trị đầy đủ bằng thuốc chống trầm cảm dựa trên nền tảng monoamine, nhưng nếu chỉ dựa vào tín hiệu monoamine thì chưa đủ để giải thích các cơ chế cốt lõi cấu thành nên TRD.

3.2.1 Tổng quan về vai trò của serotonin trong trầm cảm kháng trị

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ