(Ban hành kèm theo Quyết định số 1857/QĐ-BYT ngày 05 tháng 7 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
| ACC: | Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ |
| ACE-I: | Ức chế men chuyển |
| AHA: | Hội Tim mạch học Hoa Kỳ |
| ALĐMP: | Áp lực động mạch phổi |
| ARB: | Chẹn thụ thể Angiotensin |
| ARNI: | Ức chế thụ thể neprilysin và angiotensin |
| BNP: | B-type natriuretic peptide (peptide bài niệu) |
| CRT: | Tạo nhịp tái đồng bộ cơ tim |
| CRT-D: | Tạo nhịp tái đồng bộ tim kèm chức năng khử rung tim |
| CRT-P: | Tạo nhịp tái đồng bộ tim (không kèm chức năng khử rung tim) |
| ĐMC: | Động mạch chủ |
| EF: | Phân suất tống máu |
| ESC: | Hội tim mạch châu Âu |
| ECMO: | Hệ thống trao đổi ôxy ngoài cơ thể |
| HFSA: | Hội suy tim Hoa Kỳ |
| IABP: | Bóng đối xung động mạch chủ |
| ICD: | Máy khử rung tim tự động cấy vào cơ thể |
| ISDN: | Isosorbide dinitrate |
| LBBB: | Blốc nhánh trái |
| LVAD: | Thiết bị hỗ trợ thất trái |
| NYHA: | Hội Tim mạch New York |
| MCS: | Hỗ trợ tuần hoàn cơ học |
| MRA: | Thuốc đối kháng aldosterone (hoặc thuốc ức chế thụ thể mineralocorticoid) |
| NMCT: | Nhồi máu cơ tim |
| NT-proBNP: | N-terminal pro-B-type natriuretic peptide (peptide bài niệu) |
| PSTM: | Phân suất tống máu |
| PVI: | Cô lập tĩnh mạch phổi điều trị rung nhĩ |
| RAA: | Renin – Angiotensin – Aldosterone |
| SGLT2i: | Thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2 |
| TAVI: | Thay van động mạch chủ qua đường ống thông |
| TEE MVR: | Sửa van hai lá bằng kẹp hai bờ van qua đường ống thông |
| VNHA: | Hội Tim mạch Học Việt Na |
ĐỊNH NGHĨA, PHÂN ĐỘ VÀ PHÂN GIAI ĐOẠN SUY TIM
Định nghĩa suy tim
Suy tim là một hội chứng lâm sàng do biến đổi cấu trúc và/hoặc chức năng của tim do nhiều nguyên nhân và bệnh học khác nhau. Hậu quả là tăng áp lực trong buồng tim và/hoặc giảm cung lượng tim khi gắng sức hay khi nghỉ.
Xác định nguyên nhân suy tim là rất cần thiết, từ đó có hướng điều trị thích hợp. Phần lớn suy tim là do rối loạn chức năng cơ tim: tâm thu, tâm trương hoặc cả hai. Tuy nhiên bệnh lý tại van tim, màng ngoài tim, màng trong tim, một số rối loạn nhịp và dẫn truyền cũng góp phần dẫn đến suy tim.

Hình 1. Định nghĩa toàn cầu về suy tim

Hình 2. Nồng độ peptide bài niệu trợ giúp chẩn đoán suy tim
Phân loại suy tim
Phân loại suy tim dựa trên phân suất tống máu thất trái (bảng 1)
Bảng 1. Định nghĩa suy tim PSTM giảm, PSTM giảm nhẹ và PSTM bảo tồn
| Loại suy tim | PSTM giảm | PSTM giảm nhẹ | PSTM bảo tồn | |
| Tiêu chuẩn | 1 | Triệu chứng cơ năng (±) thực thể | Triệu chứng cơ năng (±) thực thể | Triệu chứng cơ năng (±) thực thể |
| 2 | PSTM thất trái
≤ 40% |
PSTM thất trái
41 – 49% |
PSTM thất trái
≥ 50% |
|
| 3 | Chứng cứ khách quan bất thường cấu trúc và/hoặc chức năng tim, phù hợp với rối loạn tâm trương thất trái/tăng áp lực đổ đầy thất trái, bao gồm tăng peptide bài niệu | |||
Phân giai đoạn suy tim
Theo hướng dẫn của AHA/ACC và ESC, suy tim được chia thành 4 giai đoạn.
Giai đoạn A: có nguy cơ mắc suy tim nhưng không có tổn thương cấu trúc tim, không có triệu chứng cơ năng suy tim.
Giai đoạn B: có tổn thương cấu trúc tim nhưng không có triệu chứng thực thể hay cơ năng của suy tim.
Giai đoạn C: có tổn thương cấu trúc tim kèm tiền sử hoặc hiện tại có triệu chứng cơ năng suy tim.
Giai đoạn D: suy tim nặng kháng trị cần can thiệp đặc biệt.
Phân độ chức năng của suy tim
Theo Hội Tim mạch New York, còn gọi là phân độ NYHA, được áp dụng trong giai đoạn suy tim C và D (bảng 2).
Bảng 2. Phân độ NYHA dựa vào mức nặng của triệu chứng và mức hạn chế hoạt động thể lực
| Độ I | Không hạn chế. Vận động thể lực thông thường không gây mệt, khó thở hay hồi hộp. |
| Độ II | Hạn chế nhẹ vận động thể lực. Bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi. Vận động thể lực thông thường dẫn đến mệt, hồi hộp, khó thở |
| Độ III | Hạn chế nhiều vận động thể lực. Mặc dù bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi nhưng chỉ cần vận động nhẹ đã có mệt, hồi hộp, khó thở. |
| Độ IV | Không vận động thể lực nào mà không gây khó chịu. Triệu chứng cơ năng của suy tim xảy ra ngay cả khi nghỉ ngơi, chỉ một vận động thể lực nhẹ cũng làm triệu chứng cơ năng gia tăng. |
Suy tim cấp và suy tim mạn
Suy tim được chia thành hai thể: suy tim mạn và suy tim cấp. Suy tim mạn đề cập đến những bệnh nhân đã được chẩn đoán và đang điều trị suy tim ổn định hoặc những người bệnh có triệu chứng suy tim khởi phát từ từ. Khi suy tim diễn biến nặng lên còn gọi là suy tim “mất bù” thường khiến bệnh nhân phải nhập viện và sử dụng các thuốc đường tĩnh mạch, giai đoạn này người ta định nghĩa là suy tim cấp.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ