Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Ung thư BẢN ĐỌC THỬ

Liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư

26 phút đọc

Trần Nhân1,

1 Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, TP. Hồ Chí Minh

GIỚI THIỆU

Bệnh ung thư ngày nay đã trở thành một vấn đề nhức nhối của toàn xã hội khi mà tỉ lệ người mắc bệnh ngày một gia tăng. Thực tế này đòi hỏi những phương pháp điều trị mới, hiệu quả nhưng ít tác dụng phụ hơn so với các mô thức điều trị truyền thống như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị… Xuất phát từ ý tưởng sử dụng chính các cơ chế tự bảo vệ của cơ thể để chống lại tế bào ung thư, liệu pháp miễn dịch ngày nay được xem như một “bước đột phá” trong điều trị bệnh nhân ung thư (1). Phương pháp này gồm nhiều khía cạnh khác nhau, từ không đặc hiệu đến các vaccine và kháng thể đặc hiệu, với hiệu quả điều trị được công nhận bằng những nghiên cứu từ các trung tâm y tế uy tín trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn còn đó rất nhiều thử thách trong sử dụng phương pháp miễn dịch, để tối ưu hoá và an toàn hoá, nhằm đem lại nhiều hy vọng mới cho bệnh nhân ung thư.

Từ khóa:  miễn dịch, ung thư, kháng thể đơn dòng, vaccine điều trị

VAI TRÒ CỦA HỆ MIỄN DỊCH

“Miễn dịch” (immunity) là khả năng nhận ra và loại bỏ các tác nhân “lạ” với cơ thể– gọi là kháng nguyên (antigens) – để tự bảo vệ trong quá trình phát triển và sinh tồn. Đáp ứng miễn dịch ở người gồm nhiều thành phần, từ dịch thể đến tế bào và được chia thành 2 loại có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ: miễn dịch không đặc hiệu (non-specific immunity) (bảng 1) và miễn dịch đặc hiệu (specific immunity) (bảng 2).

Bảng 1. Tóm tắt thành phần và chức năng tương ứng của miễn dịch không đặc hiệu

Miễn dịch không đặc hiệu
Còn gọi là miễn dịch tự nhiên (innate immunity), là khả năng miễn dịch từ khi cơ thể con người sinh ra đã có, chống lại tất cả các loại kháng nguyên với cùng cơ chế chung và không có sự hình thành phức hợp đặc hiệu “kháng nguyên-kháng thể”. Bao gồm 2 thành phần: tế bào và dịch thể.
Thành phần tế bào Chức năng các tế bào
Bạch cầu hạt – granulocyte.

Bạch cầu đơn nhân – monocyte, gồm nhiều loại, ví dụ như các đại thực bào (macrophage), tế bào Dendritic ở da, tế bào Kupffer ở gan…

Bắt giữ và tiêu hóa các kháng nguyên hiện diện trong cơ thể bằng cơ chế thực bào. Đại thực bào còn là một tế bào trình diện kháng nguyên (Antigen Presenting Cell, APC). Đặc biệt, các macrophage, tế bào Dendritic còn tiết ra các cytokin (cytokine, tế bào tố) – như interleukin-1 beta (IL-1-β), IL-6, IL-12 hay yếu tố hoại tử u ( Tumor Necrosis Factor, TNF) – có vai trò trong phản ứng viêm và điều hòa hoạt động của các tế bào T gây độc (cytotoxic T cell), tế bào NK (natural killer cell).
 

Tế bào NK – Natural Killer cells.

 

Là những lympho bào có khả năng giết chết các kháng nguyên bằng độc tố và cytokin (như IFNγ, TNFs, IL-2) mà không cần tín hiệu miễn dịch.
Thành phần dịch thể Chức năng thành phần dịch thể
Hệ thống bổ thể (complement system): là một hệ thống các phân tử được hoạt hóa theo một trình tự nhất định theo kiểu “dòng thác”: một chất bị kích hoạt sẽ hoạt hóa tiếp một loạt phân tử khác. Khi được kết hợp với phức kháng nguyên kháng thể, hệ thống này hoạt hóa và thúc đẩy các phản ứng miễn dịch không đặc hiệu và đặc hiệu để tiêu diệt kháng nguyên.
Các cytokin (tế bào tố, cytokine): là những phân tử có hoạt tính sinh học khác nhau, ví dụ interferons-INFs, interleukins-IL, yếu tố hoại tử u (tumor necrosis factors, TNFs), các yếu tố tăng trưởng (growth factors), và yếu tố kích thích các dòng bạch cầu (colonystimulating factors, CSFs)… Rất nhiều cytokin có vai trò trong điều trị ung thư nhờ chức năng là trung gian điều hòa các tín hiệu tương tác giữa các tế bào và hoạt hóa các dòng tế bào khác nhau. Ví dụ như IL-2 kích thích sự trưởng thành và bộc lộ các thụ thể CD4 và CD8 trên bề mặt tế bào T.

Bảng 2. Tóm tắt thành phần và chức năng tương ứng của miễn dịch đặc hiệu

Miễn dịch đặc hiệu
Còn gọi là miễn dịch thu được (aquired immunity), là khả năng miễn dịch được hình thành khi cơ thể có sự tiếp xúc với kháng nguyên và sản sinh ra kháng thể tương ứng để chống lại kháng nguyên đó. Hệ miễn dịch đặc hiệu cũng bao gồm 2 thành phần: miễn dịch dịch thể (humoral immune response) và miễn dịch qua trung gian tế bào (cell-mediate immune response).
Miễn dịch qua trung gian tế bào Vai trò 
Liên quan đến các loại lympho bào T – là những tế bào cũng có nguồn gốc từ tủy xương nhưng biệt hóa ở tuyến ức (Thymus).

Trên bề mặt của lympho bào T có các protein khác nhau – gọi là các “dấu ấn”, kí hiệu là CD (classification determinant hoặc cluster of differentiation). Có hơn 370 CD đã được xác định (2), trong đó CD4 và CD8 được biết đến rộng rãi vì chúng giúp nhận diện các loại tế bào T: Tế bào T hỗ trợ (Helper T cell – Th) biểu hiện CD4 còn tế bào T gây độc (cytotoxic T cell, Tc)  biểu hiện CD8.

Lympho T thực hiện chức năng miễn dịch tế bào khi thụ thể TCR trên bề mặt của nó (T cell receptors) tiếp xúc với kháng nguyên đã bị xử lý và trình diện bởi các tế bào APC.

Lympho T có hai vai trò chính :

Vai trò nhận biết và hỗ trợ đáp ứng miễn dịch để loại bỏ kháng nguyên : các tế bào T có vai trò quan trọng trong việc kích hoạt và hỗ trợ các tế bào lympho B bằng nhiều cơ chế khác nhau như cytokines, hoạt hóa các receptors. 

Vai trò điều hòa : nhờ phân nhóm T ức chế (suppressor T cells, Ts hoặc regulatory T cell, Treg) có vai trò ức chế phản ứng miễn dịch nếu chúng quá mạnh, được nghiên cứu nhiều trong bệnh lý tự miễn.

Miễn dịch dịch thể Vai trò 
Liên quan hoạt động của các kháng thể

(antibodies) được sản xuất từ tế bào lympho B – là những tế bào sinh ra tại tủy xương, “lympho B chủ yếu diễn ra trong tuỷ xương, sau đó, các tế bào này di chuyển đến lách (spleen) và các cơ quan lympho thứ cấp, chủ yếu là các hạch lympho.

Để sản xuất được kháng thể (hay các globulin miễn dịch – immunoglobulin, Ig) lympho B cần tiếp xúc với kháng nguyên đã được xử lý, để biến thành các tương bào (plasma cell) và tế bào này trực tiếp sinh ra kháng thể gắn đặc hiệu với kháng nguyên được trình diện đó qua những “yếu tố quyết định kháng nguyên (antigenic determinants hoặc epitope)”

Các kháng thể có 2 vai trò chủ yếu:

Vai trò nhận biết và bất hoạt các kháng nguyên đặc hiệu.

Vai trò tập trung và hoạt hóa các phản ứng miễn dịch không đặc hiệu: gồm tăng cường chức năng bạch cầu, kích thích tiết cytokin gây độc và hoạt hóa hệ thống bổ thể.

LIỆU PHÁP MIỄN DỊCH ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

Phương pháp này khác biệt với các mô thức can thiệp loại bỏ khối u thường thấy, như phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị, ở việc nâng cao vai trò hệ thống miễn dịch để chống lại tế bào ung thư một cách tự nhiên.

Trước đây đa phần gồm các biện pháp không đặc hiệu như vaccine tiêm phòng virus gây ra các bệnh có thể dẫn đến ung thư, nhưng chúng chỉ có vai trò dự phòng và tác dụng giới hạn. Hiện nay, liệu pháp miễn đặc hiệu được chú trọng với hướng nghiên cứu tập trung vào làm cho các thành phần của hệ miễn dịch của bệnh nhân nhận diện các tế bào ung thư dễ dàng hơn và tăng cường hiệu quả của các phản ứng miễn dịch tiêu diệt ung thư (bảng 3).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ