Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). CHƯƠNG 42. CÁC RỐI LOẠN TĨNH MẠCH CHI DƯỚI

27 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 42. CÁC RỐI LOẠN TĨNH MẠCH CHI DƯỚI

Venous disorders of the lower limb
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 42, 592-600


Huyết khối tĩnh mạch và hội chứng hậu huyết khối

Giải phẫu hệ thống tĩnh mạch chi dưới

Máu được dẫn lưu từ chi dưới thông qua hai hệ thống riêng biệt. Hệ thống tĩnh mạch sâu (deep venous system) dẫn lưu máu từ các mô sâu của bàn chân và các cơ vùng cẳng chân, đùi. Các tĩnh mạch sâu này nằm trong khối cơ chi dưới và bao gồm các xoang tĩnh mạch cơ dép (soleal venous sinuses) lớn. Sự co cơ trong quá trình đi bộ và các vận động khác bơm máu trở về tim ngược chiều trọng lực (được gọi là bơm cơ). Dòng chảy ngược hướng về phía bàn chân bình thường được ngăn chặn bởi các van trong hệ thống.

Da và các mô khác nằm nông hơn so với mạc sâu (deep fascia) dẫn lưu về hệ thống nông (superficial system) với hai mạch máu chính: tĩnh mạch hiển lớn (long/great saphenous vein – LSV) và tĩnh mạch hiển bé (short/small saphenous vein – SSV). Tĩnh mạch hiển lớn (LSV) nhận các nhánh từ mặt trước trong của chi (và cả từ thành bụng trước dưới). Đoạn cuối của nó xuyên qua mạc sàng (fascia lata) ở vùng bẹn để đổ vào tĩnh mạch đùi (sâu) tại vị trí nối tĩnh mạch hiển – đùi (saphenofemoral junction – SFJ; xem Hình 42.3). Tĩnh mạch hiển bé (SSV) dẫn lưu vùng sau cẳng chân dưới gối và đi xuyên qua mạc sâu vào tĩnh mạch khoeo (popliteal vein) thuộc hệ thống tĩnh mạch sâu tại vị trí nối tĩnh mạch hiển – khoeo (saphenopopliteal junction – SPJ).

Nếu các tĩnh mạch hiển lớn hoặc hiển bé bị loại bỏ hoặc triệt tiêu, một mạng lưới các tĩnh mạch nông nối thông hiện có sẽ đảm nhận việc dẫn lưu máu từ chi. Mặc dù hệ thống nông không có bơm cơ để hỗ trợ hồi lưu tĩnh mạch, các van tại SFJ, SPJ và các tĩnh mạch xuyên (perforating veins) giúp ngăn chặn dòng chảy ngược từ hệ thống sâu ra hệ thống nông. Một số tĩnh mạch xuyên dẫn máu từ hệ nông vào hệ sâu. Hầu hết các tĩnh mạch xuyên nằm ở mặt trong bắp chân phía trên mắt cá, nhưng có một tĩnh mạch xuyên khá hằng định là “tĩnh mạch xuyên Hunter” (Hunterian perforator) nằm ở mặt trong vùng giữa đùi.

Biểu hiện lâm sàng và hậu quả của huyết khối tĩnh mạch

Bệnh lý thuyên tắc huyết khối và các hậu quả bất lợi của nó rất phổ biến, bao gồm huyết khối tĩnh mạch sâu cấp tính (deep vein thrombosis – DVT), thuyên tắc phổi (pulmonary embolism) và viêm tắc tĩnh mạch nông (superficial thrombophlebitis). DVT thường xảy ra nhất như một biến chứng của các phẫu thuật lớn (major surgery), gãy xương chi dưới, bệnh lý nền cấp tính hoặc tình trạng bất động. Khoảng một phần ba số ca DVT xuất hiện mà không có nguyên nhân rõ ràng, mặc dù nhiều người trong số này có thể có tình trạng tăng đông máu tiềm ẩn. Các yếu tố nguy cơ, biểu hiện lâm sàng và quản lý DVT cấp tính và thuyên tắc phổi được thảo luận trong Chương 12, Các biến chứng của Phẫu thuật.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ