Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoaNội tiết BẢN ĐỌC THỬ

Phác đồ chẩn đoán, điều trị nhiễm toan lactic

6 phút đọc

Khái niệm

  • Toan lactic là một rối loạn chuyển hóa cấp tính, đặc trưng bởi sự gia tăng nồng độ lactate máu. Lactate là một sản phẩm trung gian của quá trình phân giải glucose, được tạo ra bởi các tế bào trong cơ thể khi thiếu oxy.

Nguyên nhân

  • Thiếu oxy (thiếu máu cục bộ): Đây là nguyên nhân phổ biến nhất của toan lactic. Thiếu oxy có thể xảy ra do các tình trạng như nhồi máu cơ timsốcsuy hô hấp, và tắc mạch phổi.
  • Tăng sản xuất lactate: Một số tình trạng có thể dẫn đến tăng sản xuất lactate, chẳng hạn như suy gansuy thận, và nhiễm trùng.
  • Giảm sử dụng lactate: Một số thuốc có thể làm giảm sử dụng lactate, chẳng hạn như metformin.

Cơ chế bệnh sinh

Khi thiếu oxy, các tế bào chuyển sang sử dụng glucose để sản xuất năng lượng. Quá trình này tạo ra nhiều lactate hơn bình thường. Lactate tích tụ trong máu, dẫn đến toan chuyển hóa.

Sinh lý bệnh học

Toan lactic gây ra toan chuyển hóa bằng cách làm giảm pH máu. pH máu bình thường là 7,35-7,45. Khi pH máu giảm xuống dưới 7,35, cơ thể sẽ cố gắng bù trừ bằng cách thải bicarbonate ra khỏi máu. Bicarbonate là một bazơ giúp trung hòa axit. Khi bicarbonate bị thải ra khỏi máu, pH máu sẽ tiếp tục giảm xuống.

Nhiễm toan lactic type A

Nhiễm toan lactic dạng A, dạng nghiêm trọng nhất, xảy ra khi axit lactic bị sản sinh quá mức trong mô thiếu máu cục bộ – là sản phẩm phụ của quá trình tạo ATP (adenosine triphosphate) kỵ khí trong quá trình thiếu oxy. Sản xuất quá mức thường xảy ra trong quá trình giảm tưới máu mô toàn cầu do sốc giảm thể tích, sốc tim, sốc nhiễm khuẩn, tình trạng tệ hơn nếu gan bị giảm tưới máu gây giảm chuyển hóa latic. Nó còn xảy ra trong bệnh lý phổi gây thiếu oxy, những bệnh lý liên quan hemoglobin.

Nhiễm toan lactic type B

Toan lactic type B xảy ra khi các mô được tưới máu bình thường (sinh ATP) và ít nguy hiểm hơn.

Nguyên nhân bao gồm tình trạng thiếu oxy mô tại chỗ (ví dụ như sử dụng cơ mạnh trong quá trình gắng sức, co giật, run do nhiệt), một số bệnh lý hệ thống và bẩm sinh (xem bảng Nguyên nhân gây toan chuyển hóa). Các loại thuốc bao gồm các thuốc ức chế men sao chép ngược nucleoside và biguanide phenformin và, ít hơn, metformin; mặc dù phenformin đã bị loại bỏ khỏi thị trường ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhưng thuốc này vẫn có ở Trung Quốc (đưa vào dưới dạng một thành phần của một số loại thuốc độc quyền của Trung Quốc). Chuyển hóa có thể bị giảm do suy gan hoặc thiếu hụt thiamin.

Bảng 1. Nguyên nhân của nhiễm axit chuyển hóa

Nguyên nhân

Ví dụ

Khoảng trống anion tăng

Toan ceton Rượu (lạm dụng mạn tính)

Bệnh tiểu đường

Nhịn đói

Suy dinh dưỡng

Toan lactic (do quá trình sinh lý) Rượu (lạm dụng mạn tính)

Thiếu oxy tiên phát do bệnh phổi

Động kinh

Sốc

 

Toan lactic (do độc tố ngoại sinh)

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ