Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[Sách dịch] Sổ tay Bệnh Gan. CHƯƠNG 31. CÁC BỆNH NHIỄM TRÙNG KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN GAN

65 phút đọc

[Sách dịch] Sổ tay Bệnh Gan – Handbook of Liver Disease – (C) NXB Elsevier, 2022
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng


CHƯƠNG 31: CÁC BỆNH NHIỄM TRÙNG KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN GAN

Other Infections Involving the Liver
Patricia Pringle MD and Raymond T. Chung MD
Handbook of Liver Disease, Chapter 31, 413-436


NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

  1. Nhiễm khuẩn gan nguyên phát rất hiếm gặp. Các bệnh nhiễm trùng toàn thân có thể gây ra rối loạn chức năng gan, từ những bất thường nhẹ trong xét nghiệm sinh hóa gan đến vàng da rõ rệt và hiếm khi là suy gan.
  2. Nhiều loại xoắn khuẩn, động vật nguyên sinh, giun sán và nấm khác nhau có thể gây tổn thương gan.
  3. Bệnh sán máng, bệnh giun tóc mao mạch, bệnh giun đũa chó mèo và bệnh giun lươn gây ra phản ứng viêm mạnh mẽ của vật chủ và xơ hóa gan, góp phần vào các biểu hiện tại gan. Bệnh leishmania và sốt rét gây bệnh chủ yếu thông qua việc phá vỡ chức năng của hệ thống lưới nội mô.
  4. Sán lá gan và bệnh giun đũa gây viêm đường mật và tăng sản đường mật; nhiễm sán lá gan có liên quan đến ung thư đường mật.
  5. Bệnh sán dây chó gây ra bệnh nang sán (xem Chương 30).
  6. Những tiến bộ trong liệu pháp dược lý đã giúp hầu hết các bệnh nhiễm trùng gan không do virus đều có thể điều trị dễ dàng; do đó, việc chẩn đoán kịp thời trong bối cảnh lâm sàng phù hợp là rất cần thiết.

CÁC BỆNH NHIỄM TRÙNG DO VI KHUẨN LIÊN QUAN ĐẾN GAN


Các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến gan và thường biểu hiện một bệnh cảnh lâm sàng của viêm gan cấp.

LEGIONELLA PNEUMOPHILA

■ Viêm phổi là biểu hiện lâm sàng chủ yếu; các chỉ số xét nghiệm sinh hóa gan bất thường thường xuyên xuất hiện, thường không có vàng da và không ảnh hưởng đến kết quả lâm sàng.
■ Đặc điểm mô học gan không đặc hiệu, với sự thâm nhiễm ở khoảng cửa, nhiễm mỡ túi nhỏ (microvesicular steatosis) và hoại tử khu trú; đôi khi có thể thấy vi sinh vật.
■ Điều trị ban đầu bằng kháng sinh nhóm fluoroquinolone hoặc macrolide.

STAPHYLOCOCCUS AUREUS VÀ STREPTOCOCCUS PYOGENES (HỘI CHỨNG SỐC NHIỄM ĐỘC)

■ Bệnh đa hệ thống gây ra bởi sự kích hoạt miễn dịch ồ ạt bởi các siêu kháng nguyên: độc tố hội chứng sốc nhiễm độc do tụ cầu (TSST-1), độc tố hội chứng sốc nhiễm độc do liên cầu (STSS), và các enterotoxin khác. Các ca bệnh do S. aureus ban đầu được mô tả liên quan đến việc sử dụng tampon và hiện nay thường là biến chứng của nhiễm trùng vết mổ, phổ biến nhất trong thời kỳ hậu sản. Tỷ lệ tử vong là 1,8% ở các trường hợp liên quan đến kinh nguyệt và 5% ở các trường hợp không liên quan đến kinh nguyệt. Các ca bệnh do S. pyogenes thường do nhiễm trùng xâm lấn.

■ Các dấu hiệu điển hình bao gồm sốt, phát ban dạng tinh hồng nhiệt (ban sần sùi với các sẩn sẫm màu lấm tấm trên nền hồng ban lan tỏa), xung huyết niêm mạc, nôn, tiêu chảy và hạ huyết áp, với sự phát triển nhanh chóng của suy đa tạng. Tổn thương gan gần như luôn luôn có mặt, là kết quả của giảm tưới máu và các độc tố lưu hành trong máu, được đánh dấu bằng vàng da sậm và nồng độ aminotransferase huyết thanh cao.

■ Các phát hiện mô học gan bao gồm nhiễm mỡ túi nhỏ, hoại tử và ứ mật ở trung tâm tiểu thùy.
■ Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng và không thường xuyên được xác nhận bằng cấy tìm
S. aureus hoặc S. pyogenes sinh độc tố hoặc bằng chứng minh sự hiện diện của siêu kháng nguyên.

■ Điều trị nhiễm trùng S. aureus bằng clindamycin tiêm tĩnh mạch cộng với nafcillin đối với các chủng nhạy cảm với methicillin hoặc vancomycin hoặc linezolid đối với các chủng kháng methicillin; nhiễm trùng S. pyogenes được điều trị bằng clindamycin và penicillin. Globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch có thể có lợi trong các trường hợp hội chứng sốc nhiễm độc do tụ cầu, nhưng dữ liệu thuyết phục hơn cho việc sử dụng nó trong các trường hợp do S. pyogenes.

CLOSTRIDIUM PERFRINGENS

■ Thường thấy kết hợp với nhiễm trùng kỵ khí hỗn hợp dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của đau vết thương cục bộ, đau bụng và tiêu chảy, nhiễm trùng Clostridium perfringens có liên quan đến hoại tử cơ hoặc hoại thư sinh hơi.

■ Vàng da có thể phát triển ở 20% bệnh nhân bị hoại thư sinh hơi và chủ yếu là hậu quả của tán huyết nội mạch ồ ạt do ngoại độc tố của vi khuẩn, dẫn đến tăng bilirubin không liên hợp.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ