Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung

53 phút đọc

TỔNG QUAN LÂM SÀNG UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG

Elsevier Point of Care.  Cập nhật ngày 28 tháng 1 năm 2025. Bản quyền Elsevier BV. Tất cả các quyền được bảo lưu.

Dịch, vẽ hình và chú giải thuật ngữ: Bs. Lê Đình Sáng

I. ĐIỂM CHÍNH

  1. Ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung (Endometrial Carcinoma) là khối u biểu mô ác tính của tử cung; đây là bệnh ác tính phổ biến nhất của đường sinh dục nữ tại Hoa Kỳ và thường gặp nhất ở phụ nữ sau mãn kinh
  2. Triệu chứng thường gặp nhất là chảy máu tử cung bất thường; trong các trường hợp tiến triển, có thể xuất hiện đau vùng chậu, chướng bụng, hoặc rối loạn chức năng ruột hoặc bàng quang
  3. Chẩn đoán dựa trên bệnh sử, khám lâm sàng, siêu âm qua đường âm đạo và sinh thiết nội mạc tử cung
  4. Các xét nghiệm trước phẫu thuật bổ sung—bao gồm công thức máu, xét nghiệm chức năng gan, xét nghiệm chức năng thận, X-quang ngực, chụp MRI vùng chậu, đánh giá phân tử khối u và xét nghiệm kháng nguyên ung thư 125—được chỉ định khi có kết quả mô học dương tính trên sinh thiết nội mạc tử cung; thường không cần thêm chẩn đoán hình ảnh để đánh giá di căn
  5. Điều trị ban đầu bao gồm cắt tử cung toàn phần, cắt hai phần phụ và đánh giá giai đoạn phẫu thuật toàn diện; phương pháp phẫu thuật xâm lấn tối thiểu được ưu tiên trong hầu hết các trường hợp
  6. Liệu pháp bảo tồn khả năng sinh sản có thể là một lựa chọn cho bệnh nhân dưới 35 tuổi bị ung thư biểu mô tuyến nội mạc độ 1, giai đoạn IA có mong muốn duy trì khả năng sinh sản
  7. Điều trị tiếp theo phụ thuộc vào giai đoạn phẫu thuật và loại mô học cũng như độ mô học của khối u; có thể bao gồm theo dõi (chỉ ở giai đoạn I) hoặc xạ trị áp sát âm đạo bổ trợ, xạ trị chiếu ngoài, hoặc hóa trị toàn thân (đơn độc hoặc phối hợp)

II. LƯU Ý

  1. Phụ nữ tiền mãn kinh bị ung thư nội mạc tử cung thường phát triển các triệu chứng mãn kinh do cắt buồng trứng hai bên; có thể cân nhắc liệu pháp thay thế nội tiết tố cho những người sống sót sau ung thư nội mạc tử cung giai đoạn sớm có nguy cơ tái phát thấp
  2. Hiếm khi, ung thư nội mạc tử cung có thể hiện diện mà không có dày nội mạc tử cung; đánh giá chảy máu tử cung bất thường tái phát hoặc dai dẳng bằng sinh thiết nội mạc tử cung bất kể độ dày nội mạc tử cung trên siêu âm

III. THUẬT NGỮ

  1. Giải thích lâm sàng
  • Ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung là khối u biểu mô ác tính của tử cung; đây là bệnh ác tính phổ biến nhất của đường sinh dục nữ tại Hoa Kỳ và thường gặp nhất ở phụ nữ sau mãn kinh
  1. Phân loại a) Phân nhóm theo mô bệnh học lâm sàng
  • Phân loại truyền thống thành 2 phân nhóm dựa trên đặc điểm mô bệnh học đang trong quá trình được thay thế bởi hệ thống dựa trên kiểu hình phân tử

b) Loại 1: chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc

  • Chiếm hơn 75% các trường hợp
  • Phụ thuộc estrogen
  • Đặc trưng về mặt mô học là ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc hoặc dạng nhầy
  • Hầu hết các trường hợp có độ mô học thấp và giới hạn trong tử cung tại thời điểm chẩn đoán
  • Đặc trưng bởi các tế bào biệt hóa tốt đến biệt hóa vừa
  • Khối u loại 1 hiếm khi xuất hiện di căn xa tại thời điểm chẩn đoán ban đầu

c) Tiền thân là tăng sản nội mạc tử cung không điển hình (tức là tân sinh nội mạc tử cung trong biểu mô)

d) Loại 2: ung thư biểu mô tuyến dạng thanh dịch hoặc tế bào sáng

  • Không phụ thuộc estrogen
  • Đặc trưng về mặt mô học là ung thư biểu mô tuyến dạng thanh dịch, ung thư biểu mô tế bào sáng, hoặc bất kỳ phân nhóm mô học nào có đặc điểm tế bào không biệt hóa
  • Khối u độ cao với nguy cơ đáng kể bệnh ngoài tử cung và tiên lượng xấu
  • Đặc trưng bởi các tế bào biệt hóa kém hoặc không biệt hóa
  • Thường được chẩn đoán ở giai đoạn III đến IV theo FIGO (Liên đoàn Sản Phụ khoa Quốc tế)
  • Liên quan đến nguy cơ cao tái phát bệnh và di căn
  • Tổn thương tiền thân là ung thư biểu mô nội mạc tử cung trong biểu mô
  1. Phân loại phân tử

a) I. Đột biến gây bệnh trong vùng exonuclease của POLE (DNA polymerase epsilon)

b) II. MSI-H (bất ổn định vi vệ tinh cao) hoặc dMMR (thiếu hụt sửa chữa ghép cặp sai)

c) III. Số lượng bản sao thể sinh dưỡng cao với các biến thể gây bệnh thường gặp trong TP53 (protein khối u p53)

d) IV. NSMP (không có đặc điểm phân tử đặc hiệu)

e) 3% đến 6% tất cả các ung thư nội mạc tử cung có thể được phân loại với nhiều hơn một nhóm phân tử

  1. Phân loại mô học

a) Ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc

  • Phổ biến nhất; chiếm khoảng 75% tất cả các ung thư tử cung
  • Đặc trưng bởi sự hiện diện của các tuyến tương tự như nội mạc tử cung bình thường
  • Các tuyến thay đổi từ biệt hóa tốt đến biệt hóa tối thiểu

b) Ung thư biểu mô tuyến dạng nhầy

  • Đặc trưng bởi sự hiện diện nổi bật của chất nhầy trong bào tương của tế bào khối u
  • Hầu hết các tế bào biệt hóa tốt

c) Ung thư biểu mô tuyến dạng thanh dịch

  • Chiếm 5% đến 10% tất cả các ung thư tử cung
  • Đặc trưng bởi các cấu trúc nhú với cuống rộng, được phủ bởi các vi nhú thứ cấp và bậc ba
  • Các tế bào biệt hóa kém hoặc không biệt hóa không định hướng vuông góc với màng đáy; tế bào chứa nhân tròn, nằm ở đỉnh

d) Ung thư biểu mô tế bào sáng

  • Chiếm 1% đến 5% tất cả các ung thư tử cung
  • Đặc trưng bởi các mẫu đặc, dạng ống nang và/hoặc nhú bao gồm các tế bào sáng, chứa đầy glycogen và tế bào đinh

e) Ung thư biểu mô tế bào hỗn hợp

  • Bao gồm hỗn hợp của khối u loại 1 (tức là ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc hoặc nhầy) và loại 2 (tức là ung thư biểu mô tuyến dạng thanh dịch hoặc tế bào sáng)
  • Loại phụ chiếm thiểu số trong khối u (tức là loại hiện diện với số lượng ít hơn trong hỗn hợp) phải chiếm ít nhất 10% tổng thể tích khối u
  • 25% hoặc nhiều hơn của khối u loại 2 trong hỗn hợp liên quan đến tiên lượng xấu

f) Ung thư biểu mô tế bào vảy

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ