ĐẠI CƯƠNG
Tại Việt nam, theo Đoàn Hữu Nghị tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày ở Nam giới là 19,3/ 100.000 người và ở Nữ là 9,1/ 100.000 người. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 40 – 60, nam gấp 2 lần nữ, chẩn đoán sớm ung thư dạ dày đã được cải thiện nhờ kỹ thuật nội soi ống mềm có sinh thiết.
Phương pháp điều trị duy nhất có hiệu quả là phẫu thuật, kết quả sau mổ phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố chẩn đoán sớm là quan trọng nhất . Nếu được chẩn đoán sớm khi tổn thương chưa xâm lấn qua lớp cơ của thành dạ dày thì thời gian sống thêm sau mổ (survie) trên 5 năm là 80 – 90 % , còn nếu chẩn đoán muộn khi tổn thương đã vượt qua lớp cơ ra tận thanh mạc thì thời gian sống thêm sau mổ trên 5 năm chỉ vào khoảng 10 – 15 %.
BỆNH NGUYÊN VÀ BỆNH SINH
Về căn nguyên của bệnh ung thư dạ dày cho đến nay vẫn chưa có một sự hiểu biết rõ ràng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dịch tễ học ung thư dạ dày như : Carver (1932 ); Karn (1933 ); Herbert và Bruske
(1936); Stocks (1950) và gần đây nhất có các công trình nghiên cứu của Nomura (1982 ); Byers và Graham (1984 ); Frentzel – Beyme (1988 ) …
Các tác giả đều cho rằng, yếu tố ăn uống đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân sinh bệnh. Đặc biệt vai trò của các sản phẩm có chứa hợp chất Nitơrat. Correa (1988 ) đưa ra sơ đồ giả thuyết nguyên nhân gây ung thư dạ dày như sau:
Ngoài ra ung thư dạ dày thường phát hiện ở những người bị bệnh thiếu máu ác tính, viêm dạ dày thể teo đét (bệnh Menetrier ), polype, loét ung thư hoá …, nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori, những người hút nhiều thuốc lá và ở những người có nhóm máu A
GIẢI PHẪU BỆNH .
Đại thể:
Ung thư dạ dày chia làm 3 thể :
Thể u: U sùi phát triển vào trong lòng dạ dày, thông thường có loét và hoại tử ở giữa
Thể loét: Thường là những ổ loét to nhỏ không đều, đáy gồ ghề bờ cứng dễ chảy
Thể thâm nhiễm: ít gặp hơn 2 thể trên, tổn thương cứng một vùng dạ dày, niêm mạc dạ dày vùng này có thể bình thường hoặc viêm. Ngoài ra có một hình thái tổn thương đặc biệt, thâm nhiễm cứng toàn bộ dạ dày, dạ dày thành hình ống. Tiên lượng thể này rất nặng .
Vi thể:
Có 2 loại tổn thương cơ bản.
Ung thư tế bào biệt hoá:
Ung thư tuyến (Adenocarcinom ) gồm nhiều ống tuyến nối với nhau hoặc xếp lộn xộn, ống giãn. Còn có tên là ung thư tế bào sáng, đây là loại chiếm tỷ lệ cao nhất trong ung thư dạ dày .
Kiểu bè (Carcinotrabeculaire), tế bào xếp thành bè dài .
Kiểu nang nhỏ (Carcinoacineux).
Kiểu ống – bè, tế bào xếp thành bè xen lẫn hình ống .
Ung thư tế bào không biệt hoá: gồm 3 loại:
Loại chế nhầy .
Loại không chế nhầy .
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ