Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Ngoại tiêu hóa - Gan mật BẢN ĐỌC THỬ

Hẹp môn vị

14 phút đọc

ĐẠI CƯƠNG

Hội chứng hẹp môn vị nếu không được điều trị kịp thời sẽ nhanh chóng dẫn đến rối loạn chuyển hóa nước, điện giải, toàn thân suy kiệt do lưu thông dạ dày –  ruột bị đình trệ. Điều trị chủ yếu bằng ngoại khoa, phải coi đây là một phẫu thuật cấp cứu có trì hoãn (trước khi phẫu thuật phải bồi phụ nước, điện giải, nâng cao thể trạng bằng truyền máu, đạm… nhất là những trường hợp hẹp nặng).

NGUYÊN NHÂN

Bệnh dạ dày – tá tràng

Loét tá tràng

Trước đây, loét tá tràng là nguyên nhân hay gặp (5 – 15%), do ổ loét to, xơ chai gây biến dạng và chít hẹp. Hiện nay, do những hiểu biết mới về cơ chế bệnh sinh và quan điểm điều trị bệnh loét nên hẹp môn vị do loét giảm đáng kể (2 – 5%).

Ung th­­ư hang – môn vị dạ dày

Tỷ lệ ung thư­­ vùng hang – môn vị hay gặp trong ung thư­­ dạ dày, từ 20 – 60%. Khối u sùi cùng thành dạ dày bị thâm nhiễm làm hẹp lòng hang – môn vị, tình trạng hẹp diễn ra tăng dần theo sự phát triển của khối ung thư.

Các nguyên nhân khác

Ở dạ dày

U lành tính vùng môn vị, thường là polyp môn vị, hang vị tụt xuống gây bịt môn vị.

Sa tụt niêm mạc dạ dày qua lỗ môn vị.

Teo cơ hang vị.

Hẹp phì đại môn vị.

Hạch trong bệnh Hodgkin.

Sẹo bỏng dạ dày do uống phải acid, kiềm.

Ngoài dạ dày

Tổ chức tụy vòng lạc chỗ vùng môn vị.

U tụy xâm lấn môn vị, tá tràng.

Viêm dính quanh tá tràng do viêm túi mật, sau phẫu thuật cắt túi mật…

SINH LÝ BỆNH

Hẹp môn vị có thể hẹp cơ năng do viêm nhiễm, phù nề, co thắt (khả năng đáp ứng với điều trị nội khoa tốt); hoặc hẹp thực thể do ung thư­­, ổ loét tá tràng to, xơ chai (thường phải điều trị ngoại khoa). Trường hợp điển hình, hẹp môn vị diễn biến theo hai giai đoạn:

Giai đoạn tăng trương lực

Dạ dày tăng trương lực, tăng co bóp khi bị cản trở lưu thông. Trên lâm sàng bệnh nhân xuất hiện khó tiêu, nôn sớm sau ăn. Khi bệnh nhân nhịn ăn, dùng kháng sinh, bù dịch, điện giải… các hiện tượng viêm nhiễm, phù nề giảm dần.

Giai đoạn mất trương lực

Khi hẹp môn vị lâu, không được điều trị sẽ dẫn đến hậu quả dạ dày bị dãn to chứa nhiều dịch và thức ăn ứ đọng, nôn xuất hiện sau ăn nhiều giờ, dẫn tới tình trạng mất nước, điện giải, rối loạn cân bằng kiềm toan do giảm Cl nhiều hơn Ktrong máu, tăng dự trữ kiềm trong máu và tăng bài tiết K+ trong nước tiểu.

Khi hẹp môn vị, bệnh nhân không ăn uống được kết hợp với nôn nhiều dẫn tới mất nước, làm giảm khối lượng lưu thông tuần hoàn trong máu dẫn tới tình trạng suy thận, tăng urê máu.

Nôn và không ăn uống được kéo dài dẫn tới thể trạng gầy sút, rối loạn dinh dưỡng, thiếu máu và giảm albumin trong máu.

TRIỆU CHỨNG

Giai đoạn đầu

Lâm sàng

Đau bụng: thường đau sau bữa ăn, đau vùng thượng vị, tính chất đau không có gì đặc biệt, đau giảm đi sau khi nôn.

Nôn: xuất hiện sớm sau khi ăn, có khi nôn ra thức ăn của bữa ăn trước cùng  dịch dạ dày màu xanh đen.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ