“Empagliflozin in Patients with Chronic Kidney Disease”, N Engl J Med. 2022 Nov 4. doi: 10.1056/NEJMoa2204233
The EMPA-KIDNEY Collaborative Group*
Lược dịch và hiệu đính: TS.BS HUỲNH NGỌC PHƯƠNG THẢO
Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
Tóm tắt
CƠ SỞ
Bệnh thận mạn là bệnh lý chiếm tỉ lệ 9-13% dân số, có nguy cơ cao mắc các biến cố tim mạch, tử vong và nhập viện do bệnh tim mạch rất cao. Với sự thành công từ các phân tích dưới nhóm của nghiên cứu EMPA-REG OUTCOME cho các kết quả rất ấn tượng về vai trò của Empagliflozin trong giảm diễn tiến bệnh thận cũng như các biến cố tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có nguy cơ cao mắc các biến cố tim mạch. Tuy nhiên, chưa có dữ liệu về hiệu quả của thuốc này ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn với các mức độ khác nhau về mức lọc cầu thận (eGFR) cũng như mức albumin niệu (uACR).
NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
Nghiên cứu EMPA-KIDNEY phân ngẫu nhiên 6609 bệnh nhân (BN) mắc bệnh thận mạn có mức lọc cầu thận ước đoán (eGFR) trong khoảng 20 – 45 ml/phút/1,73 m2 hoặc 45 – 90 ml/phút/1,73 m2 kèm tỉ lệ albumin:creatinine niệu (uACR) ≥ 200 mg/g thành hai nhóm: dùng empagliflozin 10 mg/ngày (n = 3304) đối chứng với giả dược (n = 3305) trên nền điều trị chuẩn, theo dõi trong khoảng 2 năm. Kết quả cho thấy empagliflozin làm giảm 28% nguy cơ kết cục gộp gồm bệnh thận tiến triển nặng (định nghĩa là bệnh thận giai đoạn cuối, giảm eGFR<10 ml/phút/1,73 m2 kéo dài, hoặc giảm kéo dài eGFR 40% so với mức nền, hoặc tử vong do thận) hoặc tử vong do nguyên nhân tim mạch, (HR, 0.72; 95% CI, 0.64 – 0.82; P<0.001). Hiệu quả của empagliflozin tương tự nhau ở các phân nhóm đái tháo đường và không đái tháo đường, và giữa các phân nhóm phân chia theo mức eGFR. Empaglifozin cũng làm giảm có ý nghĩa 14% nguy cơ nhập viện do mọi nguyên nhân, (HR, 0.86; 95% CI, 0.78 – 0.95; P=0.003). Tỉ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng tương tự ở hai nhóm.
DIỄN GIẢI TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Empagliflozin có thể sử dụng ở BN mắc bệnh thận mạn với các mức độ khác nhau, có ý nghĩa làm giảm nguy cơ tiến triển bệnh thận nặng hoặc tử vong do nguyên nhân tim mạch.
TỔNG QUAN
Bệnh thận mạn (CKD) thường tiến triển dần, với mức lọc cầu thận (eGFR) giảm và hiện diện albumin niệu, là nguy cơ chính dẫn đến suy thận giai đoạn cuối. Mục tiêu điều trị CKD hiện nay là làm chậm tiến triển của bệnh nhằm trì hoãn lọc máu hoặc ghép thận, là những biện pháp điều trị thay thế thận tốn kém, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và làm tăng tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do tim mạch.
Các nghiên cứu lớn, có đối chứng với giả dược thu nhận bệnh nhân mắc bệnh thận đái tháo đường kèm tiểu albumin nặng đã cho thấy các thuốc ức chế hệ renin–angiotensin (RAS), thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri–glucose 2 (SGLT2), và thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid non-steroid finerenone đều làm chậm nguy cơ tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối. Có sự khác biệt về số liệu giữa các vùng địa lý, nhưng thực tế trên bình diện chung, phần lớn những người mắc CKD thường có mức albumin niệu thấp (uACR <300 mg/g) và không có bệnh đái tháo đường. Do đó, việc nghiên cứu trên phổ rộng bệnh nhân mắc CKD có tầm quan trọng đặc biệt đối với sức khỏe cộng đồng. Kết quả phân tích dưới nhóm ở thử nghiệm lâm sàng thuốc ức chế kênh SGLT2 dapagliflozin ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn kèm tiểu albumin lớn hơn hoặc bằng 200 mg/g cho thấy thuốc này cũng có lợi ích đối với bệnh nhân bệnh thận mạn không do đái tháo đường, nhưng có rất ít dữ liệu liên quan đến bệnh nhân có mức lọc cầu thận ước đoán (eGFR) dưới 30 ml/phút/1,73 m2 và những bệnh nhân có mức tiểu albumin thấp hoặc không có.
Nghiên cứu EMPA-KIDNEY (Nghiên cứu Bảo vệ Tim và Thận với Empagliflozin) — một thử nghiệm lâm sàng quốc tế, ngẫu nhiên, nhóm song song, mù đôi, có đối chứng với giả dược, của thuốc ức chế SGLT2 empagliflozin — được thiết kế để đánh giá hiệu quả của sử dụng empagliflozin một lần mỗi ngày trên tiến triển của bệnh thận và bệnh tim mạch, đánh giá hồ sơ an toàn thuốc trên nhiều đối tượng CKD khác nhau. Nghiên cứu này nhằm thu nhận một số lượng lớn bệnh nhân CKD không kèm đái tháo đường, bệnh nhân có eGFR dưới 30 ml/phút/1,73 m2 và bệnh nhân có lượng protein niệu thấp.
Phương pháp nghiên cứu
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Thử nghiệm này được thực hiện tại 241 trung tâm ở 8 Quốc gia, có sự chấp thuận của hội đồng đạo đức các cấp. Trung tâm điều phối nghiên cứu đặt tại đại học Oxford và được tài trợ bởi hãng Dược phẩm Boehringer Ingelheim. Uỷ ban theo dõi và giám sát dữ liệu độc lập và tính an toàn của thuốc xem xét định kỳ để bảo đảm tính an toàn cho bệnh nhân và phân tích dữ liệu theo đề cương nghiên cứu đã được định trước. Toàn văn đề cương nghiên cứu và kết quả phân tích thống kê đầy đủ được đăng trên www.empakidney.org.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ