u gan của trẻ em phần lớn ác tính, thường gặp nhất là u nguyên bào gan (BNBG) và ung thư tế bào gan (UTTBG). Ở Việt Nam, BNBG hiện diện 4,2% tổng số các bệnh ung thư trẻ em, xếp thứ 5 trong 10 loại ung thư thường gặp.
Những thất bại trong điều trị ung thư tế bào gan lại không xảy ra trong BNBG vì tổn thương cùa BNBG thường là một ổ, không xơ gan và đáp ứng tốt với hóa trị có Cisplatin.
LỊCH SỬ
Năm 1898, Misick mô tả u quái của gan bé 6 tuần tuổi và tử vong. Năm 1962, Willis dùng tên gọi BNBG. Năm 1967, Ishak và Glunz đã đưa ra những tiêu chuẩn phân biệt giữa BTBG và BNBG.
BỆNH LÝ KẾT HỢP
Dị tật bẩm sinh chiếm 5 – 6% gồm thận móng ngựa, chẻ vòm, thoát vị rốn.
Hội chứng Beckwith – Wiedemann, Li – Fraumeni, bệnh đa polyp gia đình, ba nhiễm sắc thể 18…
BNBG có thể sản xuất HCG (Human Chorionic Gonadotropin). Trẻ dậy thì sớm (giọng trầm, có lông mu, phì đại cơ quan sinh dục).
CHẨN ĐOÁN u NGUYÊN BÀO GAN
Khám lâm sàng:
u gan, thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, sau 4 tuổi tần suất gặp khoảng 4%, trai > gái.
Siêu âm:
Khối dạng đặc của gan, hoại tử, xuất huyết, có mạch máu tân sinh nuôi u, có vôi hóa.
Chụp cắt lớp điện toán:
Khối u có bao nhiêu ổ, kích thước, mối liên quan với mạch máu gan. Phát hiện hạch vùng, ổ di căn ở phổi, thuyên tắc.
Định lượng AFP trong máu và các xét nghiệm khác
Tăng AFP trẻ >1 tuổi rất có ý nghĩa trong BNBG.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ