Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Ngoại Tiết niệu BẢN ĐỌC THỬ

Lao tiết niệu- sinh dục

10 phút đọc

ĐẠI CƯƠNG.

Lao tiết niệu sinh dục đứng thứ hai sau lao phổi.

Tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ = 55/45.

Tuổi: đại đa số ở tuổi 20 – 50: 70%, ở tuổi 3 – 20: 15%, ở tuổi 50 – 80: 15%.

Lao tiết niệu sinh dục là một bệnh thứ phát thường sau lao phổi.

Trên toàn bộ hệ tiết niệu và ngay trên một cơ quan tiết niệu – sinh dục lao diễn biến không đồng thời. Thận là cơ quan dễ bị lao nhất sau đó theo đường niệu xuống bàng quang, cơ quan sinh dục. Trên cùng một cơ quan có khi có cả tổn thương mới đang phát triển và cả những tổn thương đã xơ hoá…

Diễn biến bệnh có các thời kỳ sau:

Thời kỳ ủ bệnh, nung bệnh.

Thời kỳ sơ nhiễm.

Thời kỳ lan toả.

Tổn thương lao ở cơ quan tiết niệu cũng giống như ở những cơ quan khác nhưng mang tính chất đặc thù nhất là thận, bàng quang vì cấu trúc giải phẫu đặc biệt.

Triệu chứng nổi bật của lao tiết niệu sinh dục là đái rắt, đái buốt cuối bãi nên đến cuối thế kỷ XIX người ta vẫn nghĩ rằng: lao tiến triển từ bàng quang đến thận.

BỆNH SINH.

Lao thường gặp ở lứa tuổi trưởng thành (70% từ 20 – 50 tuổi).

Khu trú trực khuẩn lao ở bộ phận tiết niệu – sinh dục thường kế tiếp sau lao thâm nhiễm ở phổi hoặc xương kèm theo lao ở bộ phận khác.

Trực khuẩn Kock thường tới cơ quan tiết niệu sinh dục theo đường máu (chủ yếu) và đường bạch mạch nhưng cũng có khi qua đường ngược dòng.

GIẢI PHẪU BỆNH.

Có thể gặp tất cả các dạng tổn thương giải phẫu bệnh lý của lao ở cơ quan tiết niệu sinh dục:

Hạt: lấm tấm ở nhu mô, lan đến niêm mạc đài – bể thận, niêm mạc bàng quang.

Loét và sùi: chỉ thấy ở niêm mạc đường tiết niệu sinh dục.

Thâm nhiễm trước khi bã đậu hoá: các tổn thương có thể lan rộng loét khu trú và xơ hoá những tổn thương này thường phối hợp.

Tổn thương tại thận:

Lúc đầu khu trú ở nhu mô thận thường là ở một cực (hay gặp ở cực trên).

Tiến triển: các hạt lao lúc đầu phát triển to rộng thành củ lao, thường là ở phần vỏ sau gậm dần vào các đài thận làm cho các đài thận giãn to, loét nham nhở và cứng, tổn thương ở nhu mô thận và đài thận hợp thành các hang lao. Các củ lao có thể thành áp xe lạnh hoặc xơ hoá không nối liền với đường bài tiết tạo thành ổ lao kín bao bọc bởi tổ chức xơ.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ