BỆNH NGUYÊN VÀ BỆNH SINH:
Sự hoạt hóa các hệ thống men nhất là men Trypsin và Lipaza ngay trong tụy là vai trò chính gây viêm tụy cấp.
Trypsin:
Men này có tác dụng phân hủy đạm thành các acide amin cho cơ thể hấp thu. Bình thường tụy tiết Trypsin dưới dạng không hoạt động đó là Trypsinogen. Khi xuống ruột nhờ có Enterokinaza – do ruột tiết ra, Trysinogen biến thành trypsin hoạt động. Nếu Trypsin bị hoạt hoá ngay trong tụy sẽ gây tổn thương trước hết cho hệ thống mạch máu: làm dãn mạch, ứ trệ tuần hoàn dẫn tới phù nề và rối loạn quá trình cấp oxy cho tế bào. Nếu tình trạng trên vẫn tiếp diễn, thiểu dưỡng tế bào ngày một trầm trọng hơn dẫn tới hoại tử và xuất huyết. Người ta cho rằng sự kích hoạt Trypsin
là pha đầu tiên của viêm tụy cấp và phù nề là tổn thương đầu tiên của viêm tụy.
Lipaza
Lipaza được tiết ra dưới dạng không hoạt động. Nhờ có muối mật, Lipaza hoạt động làm phân hủy mỡ trung tính thành acide béo và glycerol. Glycerol tan trong nước được hấp thu còn acide mỡ kết hợp với calcium thành các vết nến. Trong viêm tụy cấp ta thấy các vết nến to nhỏ không đều màu trắng vàng, nằm rải rác khắp ổ bụng nhất là mạc treo và mạc nối lớn.
Như vậy sự kích hoạt các men ngay trong tụy là khởi đầu của viêm tụy cấp, sau đó nhanh chóng phát triển và gây nên những rối loạn trầm trọng do:
Các men tụy thâm nhập vào cơ thể qua mạch máu và bạch mạch.
Do dịch xuất tiết phù nề lan rộng vào mạc treo, khoang sau phúc mạc vào ổ bụng. Trong dịch này có các men tụy đã hoạt hoá, tiếp tục gây tiêu hủy tổ chức.
Do các thành phần phân hủy dở dang các tổ chức cùng với các độc tố vi khuẩn khi có bội nhiễm bị hấp thu vào máu.
Do đau đớn kích thích liên tục lên tận cùng các thần kinh của tụy, của đám rối dương và gây rối loạn hệ nội tiết.
Với những nguy cơ trên, người bệnh nhanh chóng rơi vào tình trạng rối loạn nghiêm trọng các chức năng sống, nhiễm độc nặng và tử vong. Tỷ lệ tử vong càng
cao nếu như có biến chứng chảy máu nặng trên nền tổ chức hoại tử.
Các nguyên nhân gây kích hoạt các men trong tụy:
Do có các bệnh lý đường mật: Sỏi và viêm đường mật. Nhiều tác giả nhận xét 30 – 35% viêm tụy cấp có liên quan đến bệnh đường mật, bệnh đường mật tăng cao thì viêm tụy cấp cũng tăng theo. Viêm và sỏi đặc biệt là sỏi gây tắc mật, chít hẹp cơ Oddi làm dịch mật trào ngược vào tụy.
Do có ứ đọng dịch tiêu hoá ở tá tràng và hỗng tràng (thấy trong liệt ruột, sau cắt dạ dày theo Billroth II….) nên dịch ruột có Enterokinaza và mật sẽ trào ngược vào ống tụy.
Viêm tụy cấp do sang chấn:
Sau nội soi ngược dòng ống mật chủ.
Sau phẫu thuật các cơ quan lân cận.
Sau chấn thương bụng.
Do dị ứng: thức ăn, thuốc uống, hoá chất
Do ăn uống quá mức làm tụy bị kích thích mạnh, tiết một lượng dịch quá mức bình thờng và ứ đọng lại trong ống tụy. Mặt khác gây phản xạ dãn mạch nặng, nhất là bữa ăn có nhiều rượu, ở bệnh nhân béo, cao tuổi, có bệnh lý tim mạch tiềm ẩn thì rất khó điều chỉnh rối loạn vận mạch sau bữa ăn quá độ và viêm tụy cấp dễ xảy ra
TRIỆU CHỨNG
Bảng lâm sàng của viêm tụy cấp phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, mức độ tổn
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ