ĐẠI CƯƠNG
Bàn tay có vai trò rất quan trọng trong đời sống, là cơ quan lao động nên rất dễ bị tổn thương. Theo Bohler vết thương bàn tay chiếm khoảng từ 40 – 50% trong tổng số các loại vết thương do tai nạn lao động. Tại bệnh viên Hữu Nghị Việt – Đức, vết thương bàn tay chiếm 58% trong tổng các loại vết thương do tai nạn lao động. Trong chiến tranh, vết thương bàn tay do hỏa khí như vết thương do đạn thẳng, do mìn, kíp nổ và mảnh pháo cũng gặp nhiều.
Vết thương bàn tay thường phức tạp vì trong một thể tích hẹp chứa nhiều tổ chức quý nên dù tổn thương rất nhỏ thôi nhưng cũng có thể tổn thương nhiều cơ quan khác nhu như da, gân gấp nông, gân gấp sâu, xương, khớp, mạch máu, thần kinh…
Do các tác nhân gây vết thương làm bầm dập các tổ chức phần mềm, làm tăng tiết các chất dịch gây phù nề phù nề bàn tay và các ngón tay. Tình trạng phù nề kéo dài sẽ dẫn đến dính xơ và xơ hóa các gân gây ảnh hưởng đến chức năng của bàn tay.Thương tổn thần kinh làm mất cảm giác và rối loạn dinh dưỡng kéo dài là những biến chứng hay gặp trong vết thương bàn tay.
Vết thương bàn tay có nguy cơ nhiễm khuẩn cao vì hoàn cảnh bị thương là trong lúc đang cầm, nắm, sờ mó. Ở bàn tay không có các cơ lớn, các màng che phủ và rất ít các tổ chức đệm ngăn cách giữa các bộ phận liền kề nhau. Gân, bao gân, bao hoạt dịch và xương khớp khi bị bộc lộ dễ bị nhiễm khuẩn và lan sâu theo dọc bao hoạt dịch gân, tới ngón tay, cổ tay. Các vết thương nhỏ ở bàn tay như vết xây sước, vết chọc, đứt tay, vết cắn, cào của súc vật nêu dễ bị coi thường không phẫu thuật cắt lọc sẽ dẫn tới viêm tấy, chín mé thậm chí hoại tử bàn tay.
Bàn tay có vai trò quan trọng đặc biệt của con người, là cơ quan để lao động với các động tác chủ yếu là cầm nắm và làm các động tác tinh vi, phức tạp; là cơ quan xúc giác, giúp nhận biết đồ vật qua động tác sờ mó tinh tế nhất. Hai chức năng này có quan hệ mật thiết và luôn luôn bổ xung cho nhau. 4 động tác chính của bàn tay là:
Cầm tinh vi ở các đầu ngón tay.
Cầm kẹp như cầm chìa khoá.
Cầm nắm.
Cầm xách.
Bàn tay có 5 ngón, trong đó chức năng của ngón I là quan trọng nhất rồi đến ngón II, III, V và IV.
Triệu chứng lâm sàng và XQ
Đối với vết thương bàn tay, ngoài những triệu chứng khách quan của thương tổn cần phải được khám xét tỉ mỉ chính xác và phải thống kê, tổng hợp. Vấn đề khai thác tiền sử bệnh sử và các triệu chứng chủ quan của bệnh nhân cũng rất quan trọng.
Hỏi bệnh
Tên, tuổi, nghề nghiệp? Hoàn cảnh bị thương? Nguyên nhân gây tổn thương? Cơ chế tổn thương? Thời gian lúc bị tổn thương? Giờ, ngày, thời gian từ lúc bị thương tới lúc được sơ cứu ban đầu và khi đến bệnh viện? Cảm giác chủ quan của bệnh nhân: đau, tê, mất cảm giác vùng nào? Đã được dùng thuốc kháng sinh và SAT chưa? Thời gian nào? Số lượng thuốc dùng? Tại vết thương đã được xử trí như thế nào? rửa vết thương, đắp gạc, băng bó, cố định như thế nào?
Khám thực thể
Đánh giá đầy đủ các thương tổn của vết thương bàn tay không phải đơn giản. Phải khám lâm sàng một cách tỉ mỉ, chính xác và so sánh với tay lành, phải làm động tác mẫu để bệnh nhân làm theo.
Thống kê đầy đủ các tổn thương: da, mạch máu, thần kinh, gân, xương để có phương pháp xử trí thích hợp. Với các vết thương phức tạp ở sâu nhiều khi không nhìn hết các thưởng tổn phải dùng các dấu hiệu gián tiếp để xác định. Thí dụ: tổn thương mạch máu dựa vào mầu sắc và độ căng phồng của đầu mút ngón tay. Gãy xương và trật khớp dựa vào biến dạng. Đứt gân dựa vào mất vận động của một số cơ. Đặc biệt phải chụp x-quang để đánh giá thương tổn của xương khớp để tránh bỏ sót. Phải khám tỉ mỉ, chính xác, tổng hợp để nhận định và đề ra các phương pháp điều trị thích hợp.
Khám tuần tự các tổn thương sau:
Tổn thương da
Vị trí thương tổn ở mu tay hay gan tay, ở bàn tay hay ngón tay? Hướng của vết thương, kích thước, tính chất bờ mép vết thương (sắc gọn, nham nhở, bầm dập), tình trạng khuyết hổng da, lóc da hay lột da không?
Thương tổn gân
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ