ĐẠI CƯƠNG
Một vài nét về giải phẫu đường mật
Đường dẫn mật trong gan gồm các ống hạ phân thùy, phân thùy và các ống gan phải và trái.
Ống gan phải là hợp nhất của ống phân thùy trước và phân thùy sau, ống gan phải thường ngắn, trung bình 9mm và có nhiều bất thường về giải phẫu nên ít có giá trị trong phẫu thuật.
Ống gan trái dài khoảng 20mm từ 3 ống: ống mật phân thùy giữa và 2 ống mật của phân thùy bên, ít bất thường về giải phẫu nên có giá trị về phẫu thuật. Do ống gan trái ngả 30 – 450 và hay bị sỏi mật chít lại làm khó khăn trong việc phát hiện và lấy sỏi mật trong gan.
Đường dẫn mật ngoài gan gồm ống gan chung, ống mật chủ (OMC), túi mật (TM) và ống túi mật (ống gan chung + OMC = đường dẫn mật chính; TM + ống TM = đường dẫn mật phụ). OMC đựơc tạo nên khi ống TM đổ vào ống gan chung, OMC dài trung bình 5 – 6 cm, đường kính 6 – 8 cm cùng với ống Wirsung đổ vào khúc II tá tràng (90%) qua bóng Vater, xung quanh có cơ Oddi.
Một số điểm về sinh lý
Gan bài tiết từ 700 – 800 ml mật /24h.
Thành phần của mật có: cholesterol, muối mật, sắc tố mật…
Bình thường pH dịch mật từ 7 – 7.6 (trung bình 7.3). Khi có ứ đọng hoặc nhiễm
khuẩn pH có xu hướng toan.
Áp lực đường mật trung bình từ 10 – 15cm nước. Khi tắc mật áp lực có thể tăng lên tới 25 – 35 cm nước. Áp lực đường mật phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: dung tích túi mật, tính co giãn của đường mật, sự co bóp của cơ Oddi, chức năng của dây thần kinh X, chất liệu thức ăn…
PHẪU THUẬT SỎI MẬT
Ngoài những trường hợp mổ cấp cứu sỏi mật đã có biến chứng, còn lại đa số nên
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ