Trang chủSÁCH DỊCH TIẾNG VIỆTSản phụ khoa Căn bản

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 5: Tử vong Chu sinh và Tử vong Mẹ

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 6: Hỏi Bệnh Sử và Thăm Khám trong Sản Khoa
[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 12: Xử trí cuộc đẻ
Phác đồ chẩn đoán và điều trị nhau tiền đạo (Placenta Previa)

(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và chú giải)


Chương 5: Tử vong Chu sinh và Tử vong Mẹ
Perinatal and maternal mortality
Boon H. Lim
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 5, 56-64


MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi học xong chương này, bạn sẽ có thể:

Tiêu chí kiến thức

  • Hiểu các định nghĩa về tử vong mẹ và tử vong chu sinh
  • Liệt kê các nguyên nhân chính gây tử vong mẹ và tử vong chu sinh
  • Mô tả các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến tử vong chu sinh và tử vong mẹ

Năng lực lâm sàng

  • Diễn giải dữ liệu về mẹ và chu sinh cũng như ý nghĩa đối với các dịch vụ y tế khác nhau

Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp

  • Suy ngẫm về sự khác biệt trong các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp cũng như các yếu tố nhân khẩu xã hội ảnh hưởng đến những nguyên nhân này ở các quốc gia và nền văn hóa khác nhau

TỬ VONG CHU SINH


Giới thiệu

Tử vong chu sinh là một chỉ số quan trọng về chăm sóc, sức khỏe và dinh dưỡng của người mẹ; nó cũng phản ánh chất lượng của chăm sóc sản khoa, sơ sinh và nhi khoa. Việc hiểu rõ các số liệu thống kê về tử vong chu sinh là rất quan trọng để có thể phát triển một phương pháp tiếp cận chất lượng cao trong việc giám sát các nguyên nhân tử vong, cho phép các hệ thống chăm sóc sức khỏe xây dựng các chiến lược phòng ngừa và giúp các bác sĩ lâm sàng cũng như cha mẹ hiểu được nguyên nhân tử vong của trẻ sơ sinh để lên kế hoạch cho các chiến lược theo dõi hiệu quả cho những lần mang thai trong tương lai.

Các định nghĩa

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong việc công nhận tầm quan trọng của việc so sánh quốc tế về tử vong chu sinh và sơ sinh, đã điều phối việc tổng hợp các số liệu thống kê y tế và khuyến khích các quốc gia thành viên dựa trên cùng một định nghĩa khi so sánh các số liệu thống kê. Tuy nhiên, vẫn còn có sự khác biệt trong các định nghĩa về tử vong chu sinh giữa một số quốc gia, phản ánh định nghĩa về khả năng sống và nguồn lực ở từng quốc gia.

Các định nghĩa được rút ra từ phiên bản sửa đổi lần thứ mười của Bảng phân loại bệnh tật quốc tế (ICD-10). Các định nghĩa chính là:

  • Trẻ đẻ sống: Là sự tống xuất hoặc lấy ra hoàn toàn một sản phẩm của thụ thai khỏi người mẹ, bất kể thời gian mang thai, mà sau khi tách ra, có thở hoặc có bất kỳ bằng chứng nào khác của sự sống, chẳng hạn như tim đập, dây rốn đập hoặc cử động rõ ràng của các cơ chủ động, dù dây rốn đã được cắt hay chưa hoặc nhau thai có còn dính hay không; mỗi sản phẩm của một cuộc sinh như vậy được coi là trẻ đẻ sống.
  • Thai chết lưu hoặc thai chết: Là cái chết xảy ra trước khi tống xuất hoặc lấy ra hoàn toàn một sản phẩm của thụ thai khỏi người mẹ, bất kể thời gian mang thai; cái chết được biểu thị bằng việc sau khi tách ra, thai nhi không thở hoặc không có bất kỳ bằng chứng nào khác của sự sống, chẳng hạn như tim đập, dây rốn đập hoặc cử động rõ ràng của các cơ chủ động.

Định nghĩa được WHO khuyến nghị để so sánh quốc tế là một em bé được sinh ra không có dấu hiệu của sự sống ở tuần thai thứ 28 hoặc sau đó (hoặc cân nặng lúc sinh từ 1000 g). Định nghĩa sâu hơn được ICD-10 cung cấp ưu tiên cân nặng lúc sinh hơn tuổi thai như sau:

  • Thai chết muộn – 1000 g trở lên, 28 tuần trở lên hoặc 35 cm trở lên
  • Thai chết sớm – 500 g trở lên hoặc 22 tuần trở lên hoặc 25 cm trở lên
  • Sẩy thai là mất thai trước 22 tuần tuổi thai hoàn chỉnh

Giai đoạn chu sinh: Bắt đầu từ 22 tuần tuổi thai hoàn chỉnh (154 ngày) và kết thúc sau 7 ngày hoàn chỉnh sau khi sinh.

Giai đoạn sơ sinh: Bắt đầu từ lúc sinh và kết thúc sau 28 ngày hoàn chỉnh sau khi sinh. Tử vong sơ sinh có thể được chia thành tử vong sơ sinh sớm, xảy ra trong 7 ngày đầu đời (0-6 ngày), và tử vong sơ sinh muộn, xảy ra sau ngày thứ bảy nhưng trước ngày thứ hai mươi tám của cuộc đời (7-27 ngày).

Tại Vương quốc Anh, các định nghĩa có sự khác biệt, phản ánh tỷ lệ sống sót và khái niệm về khả năng sống. Các định nghĩa pháp lý hiện hành áp dụng cho Anh và xứ Wales như sau:

  • Thai chết lưu: Một em bé được sinh ra ở tuổi thai tuần trở lên không có dấu hiệu của sự sống, bất kể thời điểm tử vong xảy ra.
  • Thai chết lưu trước chuyển dạ: Một em bé được sinh ra ở tuổi thai tuần trở lên không có dấu hiệu của sự sống và được biết là đã chết trước khi bắt đầu được chăm sóc trong chuyển dạ.
  • Thai chết lưu trong chuyển dạ: Một em bé được sinh ra ở tuổi thai tuần trở lên không có dấu hiệu của sự sống và được biết là vẫn còn sống khi bắt đầu được chăm sóc trong chuyển dạ.
  • Tử vong sơ sinh: Một trẻ đẻ sống (sinh ở tuổi thai tuần trở lên, hoặc có cân nặng lúc sinh từ 400 g trở lên nếu không có ước tính chính xác về tuổi thai) đã chết trước 28 ngày hoàn chỉnh sau khi sinh.
  • Tử vong sơ sinh sớm: Một trẻ đẻ sống (sinh ở tuổi thai tuần trở lên, hoặc có cân nặng lúc sinh từ 400 g trở lên nếu không có ước tính chính xác về tuổi thai) đã chết trước 7 ngày hoàn chỉnh sau khi sinh.
  • Tử vong sơ sinh muộn: Một trẻ đẻ sống (sinh ở tuổi thai tuần trở lên, hoặc có cân nặng lúc sinh từ 40 g trở lên nếu không có ước tính chính xác về tuổi thai) đã chết sau 7 ngày hoàn chỉnh nhưng trước 28 ngày hoàn chỉnh sau khi sinh.
  • Tử vong chu sinh: Cái chết của một thai nhi hoặc trẻ sơ sinh trong giai đoạn chu sinh, bắt đầu từ 24 tuần tuổi thai hoàn chỉnh và kết thúc trước 7 ngày hoàn chỉnh sau khi sinh.

Tại Úc và New Zealand, thai chết lưu được định nghĩa là ‘Cái chết xảy ra trước khi tống xuất hoặc lấy ra hoàn toàn một sản phẩm của thụ thai khỏi người mẹ từ 20 tuần tuổi thai hoàn chỉnh trở lên hoặc có cân nặng lúc sinh từ 400g trở lên nếu không rõ tuổi thai. Cái chết được biểu thị bằng việc sau khi tách ra, thai nhi không thở hoặc không có bất kỳ bằng chứng nào khác của sự sống, chẳng hạn như tim đập, dây rốn đập, hoặc cử động rõ ràng của các cơ chủ động’.

Tại Úc, giai đoạn chu sinh bắt đầu từ 20 tuần tuổi thai hoàn chỉnh (140 ngày) và kết thúc sau 28 ngày hoàn chỉnh sau khi sinh.

Các tỷ suất tử vong

Các định nghĩa hiện hành như sau:

  • Tỷ suất thai chết lưu (Stillbirth rate – SBR): Số ca thai chết lưu trên 1000 tổng số ca sinh
  • Tỷ suất tử vong sơ sinh (Neonatal mortality rate – NMR): Số ca tử vong sơ sinh xảy ra trong vòng 28 ngày đầu đời trên 1000 trẻ đẻ sống
  • Tỷ suất tử vong chu sinh (Perinatal mortality rate – PNMR): Số ca thai chết lưu và tử vong sơ sinh sớm (xảy ra trong tuần đầu tiên của cuộc đời) trên 1000 tổng số ca sinh (trẻ đẻ sống và thai chết lưu)

Bức tranh toàn cầu

Năm 2000, các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc (UN) đã cam kết hướng tới một loạt các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), bao gồm mục tiêu giảm ba phần tư tỷ số tử vong mẹ (MMR; số ca tử vong mẹ trên 100.000 trẻ đẻ sống) của năm 1990, sẽ đạt được vào năm 2015. Mục tiêu này (MDG 5A) và mục tiêu đạt được tiếp cận phổ cập đến sức khỏe sinh sản (MDG 5B) cùng nhau tạo thành hai mục tiêu cho MDG 5: Cải thiện sức khỏe bà mẹ. Đáng thất vọng, vào cuối kỷ nguyên MDG, tỷ suất thai chết lưu đã giảm chậm hơn kể từ năm 2000 so với cả tử vong mẹ hoặc tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi. Trên toàn thế giới, số ca thai chết lưu đã giảm 19,4% từ năm 2000 đến 2015, tương ứng với tỷ lệ giảm hàng năm (ARR) là 2%. Tốc độ giảm này thấp hơn khi so sánh với MMR (ARR = 3,0%) và tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi (ARR = 3,9%) trong cùng kỳ.

Trong nỗ lực cải thiện việc phân loại các ca tử vong mẹ, WHO đã áp dụng một số sửa đổi cho các định nghĩa của ICD-10. Điều này được gọi là ICD-Tử vong mẹ (MM).

Điều này định nghĩa tử vong xảy ra trong khi mang thai, sinh đẻ và thời kỳ hậu sản là cái chết của một phụ nữ khi đang mang thai hoặc trong vòng 42 ngày sau khi chấm dứt thai kỳ, bất kể nguyên nhân tử vong (sản khoa và không sản khoa).

Năm 2015, có 2,6 triệu ca thai chết lưu trên toàn cầu, với hơn 7178 ca tử vong mỗi ngày, tương ứng với tỷ suất thai chết lưu (SBR) là 18,4 trên 1000 ca sinh. Chín mươi tám phần trăm xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Tỷ suất thai chết lưu cao nhất là ở các khu vực xung đột và khẩn cấp. Khoảng 60% các ca thai chết lưu xảy ra ở khu vực nông thôn. SBR ở châu Phi cận Sahara cao hơn khoảng 10 lần so với các nước phát triển (29 so với 3 trên 1000 ca sinh). Trong số 133 triệu trẻ được sinh sống mỗi năm, 2,8 triệu trẻ chết trong tuần đầu tiên của cuộc đời. Các mô hình của những ca tử vong này tương tự như các mô hình tử vong mẹ; điều này tương quan với các khu vực có ít nhân viên y tế có tay nghề đỡ đẻ. Mười quốc gia, nhiều trong số này ở châu Phi và Nam Á, chiếm hai phần ba số ca thai chết lưu và hầu hết các ca tử vong sơ sinh (62%) và mẹ (58%) được ước tính vào năm 2015.

Trong một nỗ lực tiếp tục cải thiện tỷ suất tử vong chu sinh trên toàn thế giới, Kế hoạch Hành động Mỗi trẻ sơ sinh (ENAP) đã được đưa ra vào giữa năm 2014 với một nghị quyết của Hội đồng Y tế Thế giới, được tất cả các quốc gia tán thành. ENAP đặt mục tiêu giảm NMR xuống 12 hoặc ít hơn trên 1000 trẻ đẻ sống và thai chết lưu xuống 12 hoặc ít hơn trên 1000 ca sinh ở tất cả các quốc gia vào năm 2030. Cả hai mục tiêu giảm tử vong sơ sinh và thai chết lưu đều được đưa vào làm chỉ số cốt lõi trong Chiến lược Toàn cầu vì Sức khỏe Phụ nữ, Trẻ em và Vị thành niên (2015-2030) của Sáng kiến Mỗi Phụ nữ, Mỗi Trẻ em (Hình 5.1).

Các nước phát triển đã chứng kiến sự sụt giảm đều đặn của PNMR trong 30 năm qua. Tại Vương quốc Anh, MBRRACE-UK (Mothers and Babies: Reducing Risks through Audits and Confidential Enquiries across the UK) đã công bố báo cáo thường niên thứ ba về thống kê tử vong chu sinh quốc gia cho năm 2015. Báo cáo này cho thấy PNMR là 5,61 trên 1000 ca sinh, bao gồm SBR là 3,87 và NMR là 1,74 trên 1000 ca sinh. Trong khi SBR đã có xu hướng giảm kể từ năm 2013, NMR chỉ giảm nhẹ.

Tỷ suất tử vong liên quan đến chu sinh vào năm 2015 tại New Zealand được báo cáo là 9,7/1000 ca sinh. Mặc dù tỷ suất này là thấp nhất kể từ khi dữ liệu được thu thập bởi Ủy ban Đánh giá Tử vong Chu sinh và Tử vong Mẹ vào năm 2007, nó không cho thấy một xu hướng cải thiện có ý nghĩa thống kê.

Viện Sức khỏe và Phúc lợi Úc (AIHW, 2017) đã báo cáo rằng trong giai đoạn 20 năm từ 1993 đến 2012, PNMR tổng thể vẫn ổn định ở mức khoảng 10 ca tử vong trên 1000 trẻ đẻ sống. Năm 2015, có 9 ca tử vong chu sinh trên mỗi 1000 ca sinh, tổng cộng là 2849 ca tử vong chu sinh. Con số này bao gồm 2160 ca thai chết (thai chết lưu), hay 7 ca thai chết trên 1000 ca sinh, và 689 ca tử vong sơ sinh, tỷ suất là 2 ca tử vong sơ sinh trên 1000 trẻ đẻ sống.

Hình 5.1 Tiến độ toàn cầu hướng tới mục tiêu của Kế hoạch Hành động Mỗi trẻ sơ sinh nhằm chấm dứt các ca thai chết lưu có thể phòng ngừa được vào năm 2030. ARR, Tỷ lệ giảm hàng năm; SBR, tỷ suất thai chết lưu. (Tái bản với sự cho phép. Từ www.thelancet.com/pb/assets/raw/Lancet/stories/series/stillbirths2016-exec-summ.pdf (Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018)).

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất tử vong chu sinh

PNMR bị ảnh hưởng bởi sự chăm sóc, sức khỏe và dinh dưỡng của người mẹ. Các yếu tố bao gồm đặc điểm nhân khẩu xã hội, tuổi mẹ, tình trạng thiếu thốn và xa xôi, dân tộc và béo phì. Hút thuốc cũng có tác động tiêu cực đáng kể đến cân nặng lúc sinh và tử vong chu sinh.

Đặc điểm nhân khẩu xã hội

Giống như nhiều quốc gia phát triển, chẳng hạn như các quốc gia ở Bắc Mỹ và New Zealand, PNMR của các quần thể bản địa ở Úc vẫn còn cao. Các quần thể thổ dân và dân đảo eo biển Torres có gánh nặng bệnh tật trung bình cao gấp 2,3 lần so với người không phải là người bản địa. Mặc dù đã có sự giảm 20% tỷ lệ tử vong chu sinh của trẻ sinh ra từ các bà mẹ bản địa trong khoảng thời gian từ 1993 đến 2012, PNMR của trẻ sinh ra từ các bà mẹ tự nhận là thổ dân hoặc dân đảo eo biển Torres gần như gấp đôi so với trẻ của các bà mẹ không phải là người bản địa (17,1 so với 9,6 ca tử vong trên 1000 ca sinh).

Tuổi mẹ

Tuổi mẹ ở cả hai thái cực đều liên quan đến sự gia tăng tử vong chu sinh. Tại Úc, tỷ suất thai chết lưu đối với trẻ của các bà mẹ vị thành niên và các bà mẹ trên 45 tuổi cao hơn gấp đôi so với các bà mẹ trong độ tuổi 30-34 (tương ứng là 13,9 và 17,1 so với 6,4 ca tử vong trên 1000 ca sinh). Tại Vương quốc Anh, một xu hướng hơi khác đã được ghi nhận. Mặc dù đã có sự giảm tỷ lệ thai chết lưu đối với các bà mẹ trẻ nhất (<20 tuổi) trong giai đoạn 2013-2015 (từ 5,28 xuống 4,65 ca thai chết lưu trên 1000 tổng số ca sinh), một sự gia tăng tương tự về NMR đã xảy ra trong cùng kỳ (2,35-2,95 trên 1000 trẻ đẻ sống). Đối với các bà mẹ lớn tuổi (>40 tuổi), SBR vẫn không thay đổi trong giai đoạn này, trong khi NMR đã cho thấy một sự giảm nhỏ (từ 2,66 xuống 2,52 trên 1000 trẻ đẻ sống). Điều quan trọng cần lưu ý đến tác động này vì ngày càng có nhiều phụ nữ trì hoãn việc sinh con ở các nước phát triển.

Tình trạng thiếu thốn (về kinh tế xã hội)

Tình trạng kinh tế xã hội của các bà mẹ cũng có ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đến tỷ suất tử vong chu sinh ở Vương quốc Anh. Các bà mẹ ở những khu vực thiếu thốn nhất có nguy cơ bị thai chết lưu cao gấp 1,7 lần (5,05 so với 3,0 trên 1000 ca sinh) và nguy cơ có con tử vong sơ sinh cao gấp 1,6 lần (2,28 so với 1,41 trên 1000 ca sinh) so với các bà mẹ ở những khu vực ít thiếu thốn nhất (Bảng 5.1).

Bảng 5.1 Tỷ số của các tỷ suất tử vong đối với thai chết lưu và tử vong sơ sinh theo tuổi của mẹ và phân vị tình trạng thiếu thốn kinh tế xã hội của nơi cư trú: Vương quốc Anh & Các Lãnh địa Thuộc địa, cho các ca sinh năm 2015

Đặc điểm của mẹ Tỷ số của các tỷ suất tử vong (RR) 2015
Tuổi của mẹ (năm) Thai chết lưu Tử vong sơ sinh
<20 1,28 (1,06-1,55) 1,85 (1,44-2,36)
20-24 1,17 (1,04-1,30) 1,27 (1,08-1,49)
25-29 1,03 (0,94-1,13) 1,05 (0,91-1,21)
30-34 Tham chiếu Tham chiếu
35-39 1,20 (1,08-1,34) 1,16 (0,99-1,36)
1,55 (1,32-1,82) 1,58 (1,24-2,01)
Phân vị tình trạng thiếu thốn kinh tế xã hội*
1- Ít thiếu thốn nhất Tham chiếu Tham chiếu
2 1,08 (0,96-1,23) 1,07 (0,89-1,28)
3 1,23 (1,09-1,39) 1,13 (0,94-1,36)
4 1,48 (1,31-1,66) 1,42 (1,19-1,68)
5- Thiếu thốn nhất 1,68 (1,50-1,89) 1,61 (1,36-1,91)

Không bao gồm các trường hợp chấm dứt thai kỳ và các ca sinh <24+0 tuần tuổi thai. *Dựa trên mã bưu chính của mẹ tại thời điểm sinh, sử dụng Thước đo Địa phương về Trẻ em trong các Gia đình Thu nhập Thấp. Từ Báo cáo Giám sát Tử vong Chu sinh MBRRACE-UK, Tử vong Chu sinh tại Vương quốc Anh cho các ca sinh từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2015. Leicester: The Infant Mortality and Morbidity Studies, Department of Health Sciences, University of Leicester. 2017.

Dân tộc

Một sự phân bố dân tộc có ý nghĩa thống kê so với dân số sản phụ nói chung trong tỷ lệ thai chết lưu và tử vong sơ sinh, với các bà mẹ gốc da đen và châu Á có nguy cơ cao nhất, đã được ghi nhận trong báo cáo của Vương quốc Anh. Sự khác biệt về dân tộc có thể liên quan đến tình trạng việc làm và thiếu thốn. Mặc dù có thể thấy một sự giảm nhỏ trong tỷ suất tử vong theo thời gian đối với hầu hết các đặc điểm cho cả thai chết lưu và NMR, một sự gia tăng đã được ghi nhận trong tỷ lệ thai chết lưu đối với nhóm dân tộc Anh da đen từ 7,02 lên 8,17 trên 1000 tổng số ca sinh trong giai đoạn 2013-2015.

Các đặc điểm khác của mẹ

Hút thuốc là một yếu tố nguy cơ độc lập quan trọng. Tại Úc, PNMR ở trẻ có mẹ hút thuốc cao hơn gần 50% so với trẻ có mẹ không hút thuốc (13,3 so với 8,9 ca tử vong trên 1000 ca sinh). Tại Vương quốc Anh, khoảng một phần năm số bà mẹ có con bị thai chết lưu và tử vong sơ sinh được xác định là hút thuốc trong suốt thai kỳ vào năm 2015. Viện Quốc gia về Sức khỏe và Chăm sóc Xuất sắc (NICE, 2010) khuyến nghị sử dụng việc theo dõi carbon monoxide (CO) thường quy ở tất cả phụ nữ mang thai. Điều này là một phần của Gói Chăm sóc Thai chết lưu trong Dịch vụ Y tế Quốc gia để xác định tình trạng hút thuốc của phụ nữ khi đăng ký khám thai và giúp khuyến khích họ bỏ thuốc. Ảnh hưởng của việc này đối với tỷ suất thai chết lưu vẫn đang được theo dõi.

Chỉ số khối cơ thể (BMI) có thể là một yếu tố góp phần vào PNMR, nhưng dữ liệu không được thu thập một cách phổ biến cho tất cả các ca sinh. Tại Vương quốc Anh, vào năm 2015, 25% bà mẹ có con bị thai chết lưu và 19% bà mẹ có con tử vong sơ sinh thuộc nhóm béo phì. Không có sự khác biệt thống kê về kết cục khi so sánh số lần sinh, khám thai sớm, ngôi thai lúc sinh hoặc phương thức sinh. Tiền sử sản khoa như sinh non, mất thai ở tam cá nguyệt thứ hai, sẩy thai tái phát và tiền sản giật là những yếu tố quan trọng.

Nguyên nhân của thai chết lưu

Thai chết lưu là nguyên nhân đóng góp lớn nhất vào tử vong chu sinh. Việc phân loại các nguyên nhân của thai chết lưu là rất quan trọng để giúp hiểu rõ các tiền đề. Các hệ thống được sử dụng truyền thống như phân loại Wigglesworth và Aberdeen (Sản khoa) đã báo cáo một cách nhất quán rằng có tới hai phần ba số ca thai chết lưu là do các nguyên nhân không giải thích được. Nhiều phân loại mới hơn đã được phát triển, dẫn đến sự giảm đáng kể số lượng các ca thai chết lưu được phân loại là không giải thích được.

Tại Úc và New Zealand, Phân loại Tử vong Chu sinh của Hiệp hội Chu sinh Úc và New Zealand (PSANZ-PDC) và Phân loại Tử vong Sơ sinh của Hiệp hội Chu sinh Úc và New Zealand (PSANZ-NDC) được sử dụng để phân loại tất cả các ca thai chết lưu và tử vong sơ sinh. Sử dụng phân loại này, nguyên nhân hàng đầu của thai chết lưu ở Úc được ghi nhận là các bất thường bẩm sinh (26,3% số ca thai chết lưu) trong giai đoạn 2011-2012. Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong chu sinh ở trẻ của các bà mẹ thổ dân và dân đảo eo biển Torres là sinh non tự phát (26,8% số ca thai chết lưu và 48,0% số ca tử vong sơ sinh). MBRRACE-UK sử dụng hệ thống phân loại Nguyên nhân Tử vong & Các Tình trạng Liên quan (CODAC) để phân loại cả thai chết lưu và tử vong sơ sinh. Hệ thống CODAC có một cây phân cấp ba cấp độ về các nguyên nhân tử vong được mã hóa. Sử dụng hệ thống này, việc sửa đổi phân loại nguyên nhân tử vong cho các dị tật bẩm sinh vào năm 2015 đã dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ phần trăm đối với thai chết lưu và tử vong sơ sinh do các bất thường bẩm sinh khi so sánh với báo cáo giám sát tử vong chu sinh MBRRACE-UK cho các ca sinh năm 2014: 8,8% số ca thai chết lưu và 33,1% số ca tử vong sơ sinh so với 6,4% và 27,9% tương ứng vào năm 2014. Các nguyên nhân do bánh nhau chiếm 27,1% tổng số ca thai chết lưu vào năm 2015, nhưng 39,5% vẫn thuộc nhóm ‘Không rõ’ (Hình 5.2). Phân tích sâu hơn dữ liệu cho thấy gần một phần ba số ca thai chết lưu có nguyên nhân tử vong ban đầu không rõ có khả năng bị hạn chế tăng trưởng (360 trong số 1190, 30,2%), nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi chặt chẽ sự tăng trưởng trong thai kỳ.

Hình 5.2 Thai chết lưu theo nguyên nhân tử vong Cấp 1 của CODAC: Vương quốc Anh & Các Lãnh địa Thuộc địa, cho các ca sinh năm 2015. (Từ Báo cáo Giám sát Tử vong Chu sinh MBRRACE-UK, Tử vong Chu sinh tại Vương quốc Anh cho các ca sinh từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2015. Leicester: The Infant Mortality and Morbidity Studies, Department of Health Sciences, University of Leicester. 2017.)

Trên quy mô toàn cầu, báo cáo của WHO (2015) cho biết các nguyên nhân chính của thai chết lưu bao gồm:

  • biến chứng khi sinh
  • thai già tháng
  • nhiễm trùng của mẹ trong thai kỳ (sốt rét, giang mai và HIV)
  • các rối loạn của mẹ (đặc biệt là tăng huyết áp, béo phì và tiểu đường)
  • thai chậm tăng trưởng trong tử cung
  • bất thường bẩm sinh

Thai chết lưu thường đi trước bởi nhận thức của người mẹ về việc giảm cử động của thai (DFM). DFM cũng có liên quan chặt chẽ đến các kết cục chu sinh bất lợi. Mặc dù bằng chứng vẫn đang được hình thành trong lĩnh vực này, một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc giảm tỷ suất thai chết lưu có thể đạt được bằng cách tăng cường nhận thức của người mẹ, bác sĩ lâm sàng và cộng đồng về tầm quan trọng của DFM.

Thai chết lưu trong chuyển dạ

Các ước tính của WHO đã cho thấy rằng các ca thai chết lưu trong chuyển dạ chiếm một nửa tổng số ca thai chết lưu trên toàn thế giới. Tỷ lệ ước tính của các ca thai chết lưu trong chuyển dạ thay đổi từ 10% (5,3% ở Vương quốc Anh) ở các khu vực phát triển đến 59% ở Nam Á. Việc cải thiện chăm sóc khi sinh là cần thiết để ngăn chặn 1,3 triệu ca thai chết lưu trong chuyển dạ, hầu hết trong số đó đều có thể phòng ngừa được.

Các biến chứng của sinh đẻ là nguyên nhân của gần như tất cả các ca tử vong trong chuyển dạ; những ca này phần lớn có thể tránh được thông qua việc cung cấp các nhân viên đỡ đẻ và cơ sở vật chất được đào tạo phù hợp. Hầu hết các cuộc sinh ở các nước phát triển diễn ra tại các cơ sở y tế và có sự hiện diện của nhân viên y tế có trình độ. Trên toàn cầu, phạm vi bao phủ của các nhân viên đỡ đẻ có tay nghề trong khi sinh đã tăng từ 61% vào năm 2000 lên 78% vào năm 2016. Tuy nhiên, mặc dù có sự cải thiện đều đặn trên toàn cầu và trong các khu vực, hàng triệu ca sinh đã không được một nữ hộ sinh, một bác sĩ hoặc một y tá được đào tạo hỗ trợ. Ở châu Phi cận Sahara, chỉ có khoảng một nửa số trẻ đẻ sống được sinh ra với sự hỗ trợ của một nhân viên đỡ đẻ có tay nghề vào năm 2016.

Nguyên nhân của tử vong sơ sinh

Tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm từ 4,6 triệu vào năm 1990 xuống còn 3,3 triệu vào năm 2009, nhưng chỉ giảm nhẹ trong thập kỷ qua. Việc đầu tư nhiều hơn vào chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em kể từ năm 2000, khi các MDG của Liên Hợp Quốc được thiết lập, đã dẫn đến tiến bộ nhanh hơn cho sự sống còn của các bà mẹ (2,3% mỗi năm) và trẻ em dưới 5 tuổi (2,1% mỗi năm) so với trẻ sơ sinh (1,7% mỗi năm). Hàng năm, gần 41% tổng số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi là ở trẻ sơ sinh, những em bé trong 28 ngày đầu đời hoặc trẻ trong giai đoạn sơ sinh. Ba phần tư tổng số ca tử vong sơ sinh xảy ra trong tuần đầu tiên của cuộc đời. Ở các nước đang phát triển, gần một nửa số bà mẹ và trẻ sơ sinh không nhận được sự chăm sóc có tay nghề trong và ngay sau khi sinh. Hầu như tất cả (99%) các ca tử vong sơ sinh xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở châu Phi và Nam Á, nơi đã có ít tiến bộ nhất trong việc giảm tử vong sơ sinh. Trên toàn cầu, ba nguyên nhân chính gây tử vong sơ sinh là nhiễm trùng (36%, bao gồm nhiễm trùng huyết/viêm phổi, uốn ván và tiêu chảy), sinh non (28%) và ngạt khi sinh (23%). Có một số khác biệt giữa các quốc gia tùy thuộc vào cấu hình chăm sóc của họ.

Tại Vương quốc Anh, khoảng 44% các ca tử vong sơ sinh vào năm 2015 được cho là do nguyên nhân sơ sinh. Các phân loại nguyên nhân tử vong có số lượng tử vong sơ sinh lớn nhất là sinh cực non, các tình trạng thần kinh và tim-hô hấp (Hình 5.3). Tại Úc, nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sơ sinh (2011-2012) là bất thường bẩm sinh (33,1%). Một phân loại PSANZ-NDC bổ sung về sinh cực non là tình trạng hàng đầu góp phần gây tử vong trong giai đoạn sơ sinh (33,5%). Cân nặng lúc sinh thấp, mặc dù không phải là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong sơ sinh, nhưng là một mối liên quan quan trọng. Khoảng 15-20% trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2500g, dao động từ 6% ở các nước phát triển đến hơn 30% ở các nước kém phát triển.

Nhiều chiến lược đã được thực hiện nhằm cải thiện PNMR trên toàn thế giới. Tuy nhiên, sự chênh lệch về kết cục vẫn còn tồn tại. Các mục tiêu của các MDG khác nhau đã được thực hiện với các mức độ thành công khác nhau. Chìa khóa để cải thiện kết cục vẫn nằm ở việc cung cấp độ bao phủ cao của dịch vụ chăm sóc chất lượng cao trong quá trình chuyển dạ và sinh nở. Điều này mang lại lợi tức đầu tư gấp bốn lần bằng cách ngăn ngừa tử vong mẹ và sơ sinh, cũng như thai chết lưu và tàn tật, với những cải thiện trong sự phát triển của trẻ. Cải thiện chất lượng chăm sóc trước sinh và kế hoạch hóa gia đình cũng rất quan trọng để tối đa hóa sức khỏe của mẹ và thai nhi cũng như sức khỏe lâu dài của trẻ.

Hình 5.3 Tử vong sơ sinh theo nguyên nhân tử vong Cấp 1 và Cấp 2 của CODAC: Vương quốc Anh & Các Lãnh địa Thuộc địa, cho các ca sinh năm 2015. (Từ Báo cáo Giám sát Tử vong Chu sinh MBRRACE-UK, Tử vong Chu sinh tại Vương quốc Anh cho các ca sinh từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2015. Leicester: The Infant Mortality and Morbidity Studies, Department of Health Sciences, University of Leicester. 2017.)

Tử vong mẹ


Bản sửa đổi lần thứ mười của ICD định nghĩa tử vong mẹ là cái chết của một phụ nữ khi đang mang thai hoặc trong vòng 42 ngày sau khi chấm dứt thai kỳ, bất kể thời gian và vị trí của thai kỳ, do bất kỳ nguyên nhân nào liên quan đến hoặc bị làm nặng thêm bởi thai kỳ hoặc việc quản lý thai kỳ nhưng không phải do các nguyên nhân tai nạn hoặc ngẫu nhiên.

Tử vong mẹ được chia thành hai nhóm:

  • Tử vong sản khoa trực tiếp: Những trường hợp tử vong do các biến chứng sản khoa của tình trạng mang thai (thai nghén, chuyển dạ và hậu sản); do can thiệp, thiếu sót hoặc điều trị không đúng; hoặc do một chuỗi các sự kiện bắt nguồn từ bất kỳ điều nào ở trên.
  • Tử vong sản khoa gián tiếp: Những trường hợp tử vong do một bệnh có từ trước hoặc một bệnh phát triển trong thai kỳ và không phải do các nguyên nhân sản khoa trực tiếp nhưng bị làm nặng thêm bởi các tác động sinh lý của thai kỳ.

Tử vong mẹ muộn là cái chết của một phụ nữ do các nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sau 42 ngày nhưng dưới 1 năm sau khi chấm dứt thai kỳ.

Trùng hợp (ngẫu nhiên): Tử vong do các nguyên nhân không liên quan xảy ra trong thai kỳ hoặc thời kỳ hậu sản (từ ICD-10).

Trong nỗ lực cải thiện việc phân loại các ca tử vong mẹ, WHO đã áp dụng một số sửa đổi cho các định nghĩa của ICD-10. Điều này được gọi là ICD-Tử vong mẹ (ICD-MM).

Điều này định nghĩa tử vong xảy ra trong khi mang thai, sinh đẻ và thời kỳ hậu sản là cái chết của một phụ nữ khi đang mang thai hoặc trong vòng 42 ngày sau khi chấm dứt thai kỳ, bất kể nguyên nhân tử vong (sản khoa và không sản khoa).

Các đề xuất cho các mã mới có khả năng sẽ được tích hợp vào Bản sửa đổi lần thứ 11 của ICD (ICD-11).

Tỷ suất tử vong mẹ

Định nghĩa quốc tế về tỷ số tử vong mẹ (MMR) là số ca tử vong trực tiếp và gián tiếp trên 100.000 trẻ đẻ sống.

Việc thu thập dữ liệu MMR chính xác vẫn là một thách thức toàn cầu do thiếu báo cáo chính xác về các ca tử vong mẹ. Việc lập kế hoạch và trách nhiệm giải trình để cải thiện sức khỏe bà mẹ đòi hỏi các thước đo tử vong mẹ chính xác và có thể so sánh quốc tế. Nhiều quốc gia đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc thu thập dữ liệu thông qua các hệ thống đăng ký hộ tịch, các cuộc điều tra, tổng điều tra và các nghiên cứu chuyên biệt trong thập kỷ qua. Sự gia tăng đáng khen ngợi này trong nỗ lực ghi nhận các ca tử vong mẹ cung cấp dữ liệu mới có giá trị, nhưng sự đa dạng của các phương pháp được sử dụng để đánh giá tử vong mẹ trong trường hợp không có hệ thống đăng ký hộ tịch đã ngăn cản sự so sánh trực tiếp giữa các chỉ số được tạo ra. Cho đến nay, vẫn chưa có đủ tiến bộ, vì nhiều quốc gia vẫn thiếu hệ thống đăng ký hộ tịch, và ở những nơi có hệ thống như vậy, việc báo cáo thiếu vẫn tiếp tục là một thách thức lớn đối với độ chính xác của dữ liệu.

Với những thách thức trong việc thu thập các thước đo trực tiếp chính xác và được tiêu chuẩn hóa về tử vong mẹ, Nhóm Liên cơ quan Ước tính Tử vong Mẹ (MMEIG), bao gồm WHO và nhiều tổ chức phi chính phủ và các trường đại học trên toàn thế giới, đã được thành lập để cung cấp các ước tính tốt hơn cho giai đoạn 1990-2015 nhằm kiểm tra tiến độ toàn cầu, khu vực và quốc gia về tử vong mẹ. Để cung cấp các ước tính ngày càng chính xác về MMR, các phương pháp ước tính trước đây đã được tinh chỉnh để tối ưu hóa việc sử dụng dữ liệu cấp quốc gia.

Các nước phát triển như Vương quốc Anh có lợi thế về dữ liệu mẫu số chính xác, bao gồm cả trẻ đẻ sống và thai chết lưu, và đã định nghĩa MMR của họ là số ca tử vong trực tiếp và gián tiếp trên 100.000 ca sinh (maternities) như một mẫu số chính xác hơn để chỉ ra số lượng phụ nữ có nguy cơ.

Các ca sinh (maternities) được định nghĩa là số lần mang thai dẫn đến một trẻ đẻ sống ở bất kỳ tuổi thai nào hoặc thai chết lưu xảy ra ở tuần thai thứ 24 hoàn chỉnh trở lên và được yêu cầu thông báo theo luật. Điều này cho phép thiết lập một bức tranh chi tiết hơn về MMR và được sử dụng để so sánh các xu hướng theo thời gian.

Cải thiện sức khỏe bà mẹ là một trong tám MDG được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của WHO năm 2000. Hai mục tiêu để đánh giá tiến bộ trong việc cải thiện sức khỏe bà mẹ (MDG 5) là giảm 75% MMR trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2015 và đạt được tiếp cận phổ cập đến sức khỏe sinh sản vào năm 2015.

Trong báo cáo năm 2015 do WHO, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), Nhóm Ngân hàng Thế giới và Ban Dân số Liên Hợp Quốc (UNPD) công bố với tiêu đề Xu hướng Tử vong Mẹ: 1990-2015, điều đáng khích lệ là từ năm 1990, MMR toàn cầu đã giảm 44% từ 385 ca tử vong xuống còn 216 ca tử vong trên 100.000 trẻ đẻ sống (từ ước tính 532.000 xuống ước tính 303.000), tương ứng với tỷ lệ giảm trung bình hàng năm là 2,3% (Bảng 5.2). Mặc dù ấn tượng, con số này chưa bằng một nửa tỷ lệ 5,5% hàng năm cần thiết để đạt được mục tiêu giảm ba phần tư tử vong mẹ vào năm 2015 trong MDG 5.

Bảng 5.2 So sánh tỷ số tử vong mẹ (MMR, số ca tử vong mẹ trên 100.000 trẻ đẻ sống) và số ca tử vong mẹ, theo khu vực Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc, 1990 và 2015

Khu vực Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc 1990 2015 Tỷ lệ phần trăm thay đổi từ 1990 đến 2015
MMR Số ca tử vong mẹ MMR Số ca tử vong mẹ
Thế giới 385 532.000 216 303.000 44
Các khu vực phát triển 23 3.500 12 1.700 48
Các khu vực đang phát triển 430 529.000 239 302.000 44

Từ Xu hướng Tử vong Mẹ 1990 đến 2015: Ước tính của WHO, UNICEF, UNFPA, Nhóm Ngân hàng Thế giới và Ban Dân số Liên Hợp Quốc (WHO 2015).

Những cải thiện về MMR đã đạt được ở mọi khu vực. Hầu như tất cả các ca tử vong mẹ đều có thể phòng ngừa được. Tuy nhiên, sự chênh lệch vẫn xảy ra giữa các nước giàu nhất và nghèo nhất, với mức độ tử vong mẹ vẫn cao ở mức không thể chấp nhận được ở châu Phi cận Sahara, chiếm khoảng 66% (201.000), và Nam Á (22% (66.000)), trong tổng số ca tử vong mẹ toàn cầu vào năm 2015. Nguy cơ tử vong mẹ trong đời ở các nước có thu nhập cao là 1 trên 3300, so với 1 trên 41 ở các nước có thu nhập thấp.

Trên toàn cầu, các nguyên nhân chính gây tử vong mẹ là (Hình 5.4):

  • băng huyết, nguyên nhân hàng đầu, chiếm 27% tổng số ca tử vong
  • các rối loạn tăng huyết áp
  • nhiễm trùng huyết
  • phá thai không an toàn
  • thuyên tắc

Hình 5.4 Các nguyên nhân tử vong mẹ – bức tranh toàn cầu. (Tái bản với sự cho phép. Từ Xu hướng tử vong mẹ: 1990 đến 2015: ước tính của WHO, UNICEF, UNFPA, Nhóm Ngân hàng Thế giới và Ban Dân số Liên Hợp Quốc, 2015.)

Tại Vương quốc Anh, Điều tra Kín về Tử vong Mẹ đã công bố các báo cáo ba năm một lần kể từ khi được giới thiệu tại Anh và xứ Wales vào năm 1952 và đã đại diện cho một tiêu chuẩn vàng quốc tế về điều tra chi tiết và cải thiện chăm sóc thai sản trong hơn 60 năm. Kể từ năm 2012, MBRRACE-UK đã công bố các Điều tra Kín về Tử vong và Bệnh tật Mẹ từ Vương quốc Anh và Ireland với tiêu đề Cứu sống, Cải thiện Chăm sóc cho Bà mẹ. Trong báo cáo thường niên thứ tư được công bố vào tháng 12 năm 2017, dữ liệu giám sát về tử vong mẹ từ năm 2013 đến 2015 đã được công bố. Tại Úc, dữ liệu tương tự về tử vong mẹ được báo cáo 3 năm một lần bởi AIHW. Báo cáo mới nhất được công bố vào năm 2017, bao gồm giai đoạn 2012-2014.

Tại Vương quốc Anh, 240 phụ nữ đã tử vong trong giai đoạn 2013-2015 trong hoặc trong vòng 42 ngày sau khi kết thúc thai kỳ. Cái chết của 38 phụ nữ được phân loại là trùng hợp. Do đó, trong giai đoạn ba năm này, 202 phụ nữ đã tử vong do các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp trong số 2.305.920 ca sinh, tỷ suất tử vong mẹ là 8,76 trên 100.000 ca sinh. Con số này tương đương với tỷ suất 8,54 trên 100.000 ca sinh trong giai đoạn 2012-2014.

Đã có sự giảm 37% tổng thể về tỷ suất tử vong mẹ trong khoảng thời gian từ 2003-2005 đến 2013-2015. Tỷ suất tử vong mẹ trực tiếp đã giảm 44% kể từ năm 2003-2005, và đã có sự giảm 31% về tỷ suất tử vong mẹ gián tiếp. Tỷ suất tử vong tổng thể và tử vong mẹ trực tiếp trong giai đoạn ba năm 2013-2015 không khác biệt đáng kể so với tỷ suất trong giai đoạn 2010-2012. Tuy nhiên, tỷ suất tử vong mẹ gián tiếp thấp hơn đáng kể trong giai đoạn 2013-2015 so với 2010-2012 (Hình 5.5).

Hình 5.5 Tỷ suất tử vong mẹ trực tiếp và gián tiếp trên 100.000 ca sinh, Vương quốc Anh 2003-2014 (sử dụng ICD-MM). (Tái bản với sự cho phép. Từ MBRRACE-UK. Cứu sống, Cải thiện Chăm sóc cho Bà mẹ – Những bài học kinh nghiệm để thông tin cho chăm sóc thai sản từ các Điều tra Kín về Tử vong và Bệnh tật Mẹ của Vương quốc Anh và Ireland 2013-15. Oxford: National Perinatal Epidemiology Unit, University of Oxford 2017.)

Các nguyên nhân chính gây tử vong mẹ ở Vương quốc Anh

Năm nguyên nhân trực tiếp chính gây tử vong mẹ ở Vương quốc Anh (2013-2015), theo thứ tự quan trọng, như sau:

  1. Huyết khối và thuyên tắc huyết khối
  2. Băng huyết
  3. Nguyên nhân tâm thần – tự tử
  4. Nhiễm trùng liên quan đến thai kỳ – nhiễm trùng huyết
  5. Thuyên tắc ối

Số ca tử vong mẹ gián tiếp phần lớn không thay đổi so với giai đoạn ba năm trước. Ba nguyên nhân gián tiếp phổ biến nhất gây tử vong mẹ trong năm sau sinh là bệnh tim, các nguyên nhân gián tiếp khác và các tình trạng thần kinh. Nhiều phụ nữ bị bệnh tim có các yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống như béo phì, hút thuốc và tuổi mẹ.

Tình hình tại Úc

Các xu hướng tương tự đã xảy ra ở Úc, với sự sụt giảm MMR từ 8,4 trên 100.000 phụ nữ sinh con trong giai đoạn 2003-2005 xuống còn 6,8 trong giai đoạn 2012-2014. MMR ở phụ nữ bản địa (18,7 trên 100.000 phụ nữ sinh con) vẫn cao hơn ba lần so với dân số không phải là người bản địa (6,3 trên 100.000).

Tại Úc (2012-2014), các ca tử vong mẹ trực tiếp thường xuyên nhất là do thuyên tắc huyết khối phổi, băng huyết sản khoa và các rối loạn tăng huyết áp. Băng huyết không do sản khoa và bệnh tim mạch là những nhóm nguyên nhân tử vong mẹ gián tiếp phổ biến nhất. Kể từ năm 2000, phụ nữ thổ dân và dân đảo eo biển Torres có nguy cơ tử vong liên quan đến thai kỳ cao hơn đáng kể so với các phụ nữ Úc khác do các nguyên nhân tim mạch, tự tử, rối loạn tăng huyết áp, băng huyết sản khoa, nhiễm trùng huyết và trong giai đoạn đầu thai kỳ.

TÓM TẮT Ý CHÍNH

Tử vong chu sinh

  • Tỷ suất thai chết lưu toàn cầu: 18,4/1000 ca sinh
  • Tỷ suất thai chết lưu tại Anh, 2015: 3,87/1000 ca sinh
  • Tỷ suất tử vong sơ sinh: 1,74/1000 ca sinh
  • Tỷ suất tử vong chu sinh: 5,61/1000 ca sinh
  • Tỷ suất tử vong chu sinh tại Úc, 2015: 7,0/1000 ca sinh

Nguyên nhân (MBRRACE-UK 2015)

  • Thai chết lưu
    • Không giải thích được: 39,5%
    • Do bánh nhau: 27,1%
    • Bất thường bẩm sinh: 8,8%
  • Tử vong sơ sinh
    • Các nguyên nhân sơ sinh, bao gồm sinh cực non, các nguyên nhân thần kinh và tim-hô hấp: 43,9%
    • Bất thường bẩm sinh: 33,1%
    • Nhiễm trùng: 7,1%

Tử vong mẹ

  • Điều tra Kín tại Anh 2013-2015
    • Tử vong trực tiếp: 3,82 trên 100.000 ca sinh
    • Tử vong gián tiếp: 4,94 trên 100.000 ca sinh
  • AIHW 2012-2014
    • Tử vong trực tiếp: 3,45 trên 100.000 phụ nữ sinh con
    • Tử vong gián tiếp: 3,35 trên 100.000 phụ nữ sinh con

Các nguyên nhân trực tiếp phổ biến nhất gây tử vong ở Anh

  1. Huyết khối và thuyên tắc huyết khối
  2. Băng huyết
  3. Nguyên nhân tâm thần – tự tử
  4. Nhiễm trùng liên quan đến thai kỳ – nhiễm trùng huyết
  5. Thuyên tắc ối

Các nguyên nhân gián tiếp phổ biến nhất ở Anh

  • Bệnh tim
  • Các nguyên nhân gián tiếp khác
  • Các tình trạng thần kinh

Bảng chú giải thuật ngữ Y học Anh-Việt

STT

Thuật ngữ tiếng Anh

Phiên âm IPA

Nghĩa Tiếng Việt

1 Perinatal mortality /ˌpɛrɪˈneɪtəl mɔːˈtæləti/ Tử vong chu sinh
2 Maternal mortality /məˈtɜːnəl mɔːˈtæləti/ Tử vong mẹ
3 Obstetric care /əbˈstɛtrɪk kɛə/ Chăm sóc sản khoa
4 Neonatal care /ˌniːəʊˈneɪtəl kɛə/ Chăm sóc sơ sinh
5 Paediatric care /ˌpiːdiˈætrɪk kɛə/ Chăm sóc nhi khoa
6 Surveillance /səˈveɪləns/ Giám sát
7 Prevention strategies /prɪˈvɛnʃən ˈstrætədʒiz/ Chiến lược phòng ngừa
8 Clinicians /klɪˈnɪʃənz/ Bác sĩ lâm sàng
9 World Health Organization (WHO) /wɜːld hɛlθ ˌɔːɡənaɪˈzeɪʃən/ Tổ chức Y tế Thế giới
10 Viability /ˌvaɪəˈbɪləti/ Khả năng sống
11 International Classification of Diseases (ICD-10) /ˌɪntəˈnæʃənəl ˌklæsɪfɪˈkeɪʃən əv dɪˈziːzɪz/ Bảng phân loại bệnh tật quốc tế
12 Live birth /laɪv bɜːθ/ Trẻ đẻ sống
13 Product of conception /ˈprɒdʌkt əv kənˈsɛpʃən/ Sản phẩm của thụ thai
14 Umbilical cord /ʌmˈbɪlɪkəl kɔːd/ Dây rốn
15 Placenta /pləˈsɛntə/ Bánh nhau, nhau thai
16 Stillbirth /ˈstɪlbɜːθ/ Thai chết lưu
17 Fetal death /ˈfiːtəl dɛθ/ Thai chết
18 Fetus /ˈfiːtəs/ Thai nhi
19 Gestation /dʒɛˈsteɪʃən/ Tuổi thai, thai kỳ
20 Birth weight /bɜːθ weɪt/ Cân nặng lúc sinh
21 Late fetal death /leɪt ˈfiːtəl dɛθ/ Thai chết muộn
22 Early fetal death /ˈɜːli ˈfiːtəl dɛθ/ Thai chết sớm
23 Miscarriage /ˈmɪsˌkærɪdʒ/ Sẩy thai
24 Pregnancy loss /ˈprɛɡnənsi lɒs/ Mất thai
25 Perinatal period /ˌpɛrɪˈneɪtəl ˈpɪəriəd/ Giai đoạn chu sinh
26 Neonatal period /ˌniːəʊˈneɪtəl ˈpɪəriəd/ Giai đoạn sơ sinh
27 Neonatal deaths /ˌniːəʊˈneɪtəl dɛθs/ Tử vong sơ sinh
28 Early neonatal deaths /ˈɜːli ˌniːəʊˈneɪtəl dɛθs/ Tử vong sơ sinh sớm
29 Late neonatal deaths /leɪt ˌniːəʊˈneɪtəl dɛθs/ Tử vong sơ sinh muộn
30 Gestational age /dʒɛˈsteɪʃənəl eɪdʒ/ Tuổi thai
31 Antepartum stillbirth /ˌæntiˈpɑːtəm ˈstɪlbɜːθ/ Thai chết lưu trước chuyển dạ
32 Onset of care in labour /ˈɒnsɛt əv kɛər ɪn ˈleɪbə/ Bắt đầu chăm sóc trong chuyển dạ
33 Intrapartum stillbirth /ˌɪntrəˈpɑːtəm ˈstɪlbɜːθ/ Thai chết lưu trong chuyển dạ
34 Perinatal death /ˌpɛrɪˈneɪtəl dɛθ/ Tử vong chu sinh
35 Stillbirth rate (SBR) /ˈstɪlbɜːθ reɪt/ Tỷ suất thai chết lưu
36 Neonatal mortality rate (NMR) /ˌniːəʊˈneɪtəl mɔːˈtæləti reɪt/ Tỷ suất tử vong sơ sinh
37 Perinatal mortality rate (PNMR) /ˌpɛrɪˈneɪtəl mɔːˈtæləti reɪt/ Tỷ suất tử vong chu sinh
38 United Nations (UN) /juːˈnaɪtɪd ˈneɪʃənz/ Liên Hợp Quốc
39 Millennium Development Goals (MDGs) /mɪˈlɛniəm dɪˈvɛləpmənt ɡəʊlz/ Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
40 Maternal mortality ratio (MMR) /məˈtɜːnəl mɔːˈtæləti ˈreɪʃiəʊ/ Tỷ số tử vong mẹ
41 Reproductive health /ˌriːprəˈdʌktɪv hɛlθ/ Sức khỏe sinh sản
42 Annual reduction rate (ARR) /ˈænjuəl rɪˈdʌkʃən reɪt/ Tỷ lệ giảm hàng năm
43 Puerperium /ˌpjuːəˈpɪəriəm/ Thời kỳ hậu sản
44 Termination of pregnancy /ˌtɜːmɪˈneɪʃən əv ˈprɛɡnənsi/ Chấm dứt thai kỳ
45 Low- and middle-income countries /ləʊ ænd ˈmɪdəlˈɪnkʌm ˈkʌntriz/ Các nước thu nhập thấp và trung bình
46 Conflict and emergency areas /ˈkɒnflɪkt ænd ɪˈmɜːdʒənsi ˈɛəriəz/ Khu vực xung đột và khẩn cấp
47 Sub-Saharan Africa /sʌb səˈhɑːrən ˈæfrɪkə/ Châu Phi cận Sahara
48 Skilled health professional /skɪld hɛlθ prəˈfɛʃənəl/ Nhân viên y tế có tay nghề
49 Every Newborn Action Plan (ENAP) /ˈɛvri ˈnjuːbɔːn ˈækʃən plæn/ Kế hoạch Hành động Mỗi trẻ sơ sinh
50 World Health Assembly /wɜːld hɛlθ əˈsɛmbli/ Hội đồng Y tế Thế giới
51 Core indicators /kɔːr ˈɪndɪkeɪtəz/ Chỉ số cốt lõi
52 MBRRACE-UK /ɛm-bi-ɑː-ɑː-eɪ-si-iː juː-keɪ/ MBRRACE-UK (Tổ chức giám sát tử vong mẹ và chu sinh tại Anh)
53 Perinatal and Maternal Mortality Review Committee /ˌpɛrɪˈneɪtəl ænd məˈtɜːnəl mɔːˈtæləti rɪˈvjuː kəˈmɪti/ Ủy ban Đánh giá Tử vong Chu sinh và Tử vong Mẹ
54 Australian Institute of Health and Welfare (AIHW) /ɒˈstreɪliən ˈɪnstɪtjuːt əv hɛlθ ænd ˈwɛlfɛə/ Viện Sức khỏe và Phúc lợi Úc
55 Socio-demographic characteristics /ˌsəʊsiəʊ ˌdɛməˈɡræfɪk ˌkærɪktəˈrɪstɪks/ Đặc điểm nhân khẩu xã hội
56 Deprivation /ˌdɛprɪˈveɪʃən/ Tình trạng thiếu thốn
57 Remoteness /rɪˈməʊtnəs/ Sự xa xôi, hẻo lánh
58 Ethnicity /ɛθˈnɪsəti/ Dân tộc
59 Obesity /əʊˈbiːsəti/ Béo phì
60 Indigenous populations /ɪnˈdɪdʒɪnəs ˌpɒpjʊˈleɪʃənz/ Dân số bản địa
61 Aboriginal and Torres Strait Islander /ˌæbəˈrɪdʒənəl ænd ˈtɒrɪs streɪt ˈaɪləndə/ Thổ dân và dân đảo eo biển Torres
62 Teenage mothers /ˈtiːneɪdʒ ˈmʌðəz/ Bà mẹ vị thành niên
63 Childbearing /ˈtʃaɪldˌbɛərɪŋ/ Việc sinh con
64 Socioeconomic status /ˌsəʊsiəʊ ˌiːkəˈnɒmɪk ˈsteɪtəs/ Tình trạng kinh tế xã hội
65 Quintile /ˈkwɪntaɪl/ Phân vị (ngũ phân vị)
66 Postcodes /ˈpəʊstkəʊdz/ Mã bưu chính
67 Black British ethnic group /blæk ˈbrɪtɪʃ ˈɛθnɪk ɡruːp/ Nhóm dân tộc Anh da đen
68 Independent risk factor /ˌɪndɪˈpɛndənt rɪsk ˈfæktə/ Yếu tố nguy cơ độc lập
69 National Institute for Health and Care Excellence (NICE) /ˈnæʃənəl ˈɪnstɪtjuːt fə hɛlθ ænd kɛər ˈɛksələns/ Viện Quốc gia về Sức khỏe và Chăm sóc Xuất sắc
70 Carbon monoxide (CO) monitoring /ˈkɑːbən məˈnɒksaɪd ˈmɒnɪtərɪŋ/ Theo dõi carbon monoxide (CO)
71 Stillbirth Care Bundle /ˈstɪlbɜːθ kɛə ˈbʌndl/ Gói Chăm sóc Thai chết lưu
72 National Health Service (NHS) /ˈnæʃənəl hɛlθ ˈsɜːvɪs/ Dịch vụ Y tế Quốc gia (Anh)
73 Body mass index (BMI) /ˈbɒdi mæs ˈɪndɛks/ Chỉ số khối cơ thể
74 Parity /ˈpærəti/ Số lần sinh
75 Early booking /ˈɜːli ˈbʊkɪŋ/ Đăng ký khám thai sớm
76 Presentation at birth /ˌprɛzɛnˈteɪʃən æt bɜːθ/ Ngôi thai lúc sinh
77 Mode of delivery /məʊd əv dɪˈlɪvəri/ Phương thức sinh
78 Past obstetric history /pɑːst əbˈstɛtrɪk ˈhɪstəri/ Tiền sử sản khoa
79 Pre-term birth /priː tɜːm bɜːθ/ Sinh non
80 Mid-trimester loss /mɪd traɪˈmɛstə lɒs/ Mất thai ở tam cá nguyệt thứ hai
81 Recurrent miscarriage /rɪˈkʌrənt ˈmɪsˌkærɪdʒ/ Sẩy thai tái phát
82 Pre-eclampsia /ˌpriːɪˈklæmpsiə/ Tiền sản giật
83 Antecedents /ˌæntɪˈsiːdənts/ Tiền đề, yếu tố đi trước
84 Wigglesworth classification /ˈwɪɡəlzˌwɜːθ ˌklæsɪfɪˈkeɪʃən/ Phân loại Wigglesworth
85 Aberdeen (Obstetric) classification /ˌæbəˈdiːn (əbˈstɛtrɪk) ˌklæsɪfɪˈkeɪʃən/ Phân loại Aberdeen (Sản khoa)
86 Unexplained causes /ˌʌnɪkˈspleɪnd ˈkɔːzɪz/ Nguyên nhân không giải thích được
87 Perinatal Society of Australia and New Zealand (PSANZ) /ˌpɛrɪˈneɪtəl səˈsaɪəti əv ɒˈstreɪliə ænd njuː ˈziːlənd/ Hiệp hội Chu sinh Úc và New Zealand
88 Perinatal Death Classification (PDC) /ˌpɛrɪˈneɪtəl dɛθ ˌklæsɪfɪˈkeɪʃən/ Phân loại Tử vong Chu sinh
89 Neonatal Death Classification (NDC) /ˌniːəʊˈneɪtəl dɛθ ˌklæsɪfɪˈkeɪʃən/ Phân loại Tử vong Sơ sinh
90 Congenital abnormalities /kənˈdʒɛnɪtəl ˌæbnɔːˈmælətiz/ Bất thường bẩm sinh
91 Spontaneous pre-term birth /spɒnˈteɪniəs priː tɜːm bɜːθ/ Sinh non tự phát
92 Cause of Death & Associated Conditions (CODAC) /kɔːz əv dɛθ ænd əˈsəʊʃieɪtɪd kənˈdɪʃənz/ Nguyên nhân Tử vong & Các Tình trạng Liên quan
93 Hierarchical tree /ˌhaɪəˈrɑːkɪkəl triː/ Cây phân cấp
94 Placental causes /pləˈsɛntəl ˈkɔːzɪz/ Nguyên nhân do bánh nhau
95 Growth restricted /ɡrəʊθ rɪˈstrɪktɪd/ Hạn chế tăng trưởng
96 Childbirth complications /ˈtʃaɪldbɜːθ ˌkɒmplɪˈkeɪʃənz/ Biến chứng khi sinh
97 Post-term pregnancy /pəʊst tɜːm ˈprɛɡnənsi/ Thai già tháng
88 Maternal infections /məˈtɜːnəl ɪnˈfɛkʃənz/ Nhiễm trùng của mẹ
99 Malaria /məˈlɛəriə/ Sốt rét
100 Syphilis /ˈsɪfəlɪs/ Giang mai
101 HIV /eɪtʃ aɪ viː/ HIV
102 Maternal disorders /məˈtɜːnəl dɪsˈɔːdəz/ Rối loạn của mẹ
103 Hypertension /ˌhaɪpəˈtɛnʃən/ Tăng huyết áp
104 Diabetes /ˌdaɪəˈbiːtiːz/ Tiểu đường
105 Fetal growth restriction /ˈfiːtəl ɡrəʊθ rɪˈstrɪkʃən/ Thai chậm tăng trưởng trong tử cung
106 Decreased fetal movement (DFM) /dɪˈkriːst ˈfiːtəl ˈmuːvmənt/ Giảm cử động của thai
107 Adverse perinatal outcomes /ˈædvɜːs ˌpɛrɪˈneɪtəl ˈaʊtkʌmz/ Kết cục chu sinh bất lợi
108 Intrapartum /ˌɪntrəˈpɑːtəm/ Trong chuyển dạ
109 Birth attendants /bɜːθ əˈtɛndənts/ Nhân viên đỡ đẻ
110 Midwife /ˈmɪdwaɪf/ Nữ hộ sinh
111 Sepsis/pneumonia /ˈsɛpsɪs/ /njuːˈməʊniə/ Nhiễm trùng huyết/viêm phổi
112 Tetanus /ˈtɛtənəs/ Uốn ván
113 Diarrhoea /ˌdaɪəˈrɪə/ Tiêu chảy
114 Birth asphyxia /bɜːθ əsˈfɪksiə/ Ngạt khi sinh
115 Extreme prematurity /ɪkˈstriːm ˌpriːməˈtjʊərəti/ Sinh cực non
116 Neurological conditions /ˌnjʊərəˈlɒdʒɪkəl kənˈdɪʃənz/ Tình trạng thần kinh
117 Cardio-respiratory conditions /ˈkɑːdiəʊ rɪˈspɪrətəri kənˈdɪʃənz/ Tình trạng tim-hô hấp
118 Low birth weight /ləʊ bɜːθ weɪt/ Cân nặng lúc sinh thấp
119 Disparities /dɪˈspærətiz/ Sự chênh lệch, bất bình đẳng
120 High coverage /haɪ ˈkʌvərɪdʒ/ Độ bao phủ cao
121 Quality of care /ˈkwɒləti əv kɛə/ Chất lượng chăm sóc
122 Quadruple return on investment /kwɒdˈruːpəl rɪˈtɜːn ɒn ɪnˈvɛstmənt/ Lợi tức đầu tư gấp bốn lần
123 Disability /ˌdɪsəˈbɪləti/ Tàn tật
124 Child development /tʃaɪld dɪˈvɛləpmənt/ Sự phát triển của trẻ
125 Antenatal care /ˌæntiˈneɪtəl kɛə/ Chăm sóc trước sinh
126 Family planning /ˈfæməli ˈplænɪŋ/ Kế hoạch hóa gia đình
127 Fetal wellbeing /ˈfiːtəl ˌwɛlˈbiːɪŋ/ Sức khỏe thai nhi
128 Direct obstetric deaths /dɪˈrɛkt əbˈstɛtrɪk dɛθs/ Tử vong sản khoa trực tiếp
129 Obstetric complications /əbˈstɛtrɪk ˌkɒmplɪˈkeɪʃənz/ Biến chứng sản khoa
130 Interventions /ˌɪntəˈvɛnʃənz/ Can thiệp
131 Omissions /əʊˈmɪʃənz/ Thiếu sót
132 Incorrect treatment /ˌɪnkəˈrɛkt ˈtriːtmənt/ Điều trị không đúng
133 Indirect obstetric deaths /ˌɪndɪˈrɛkt əbˈstɛtrɪk dɛθs/ Tử vong sản khoa gián tiếp
134 Pre-existing disease /priː ɪɡˈzɪstɪŋ dɪˈziːz/ Bệnh có từ trước
135 Physiological effects /ˌfɪziəˈlɒdʒɪkəl ɪˈfɛkts/ Tác động sinh lý
136 Late maternal death /leɪt məˈtɜːnəl dɛθ/ Tử vong mẹ muộn
137 Coincidental (fortuitous) /kəʊˌɪnsɪˈdɛntəl (fɔːˈtjuːɪtəs)/ Trùng hợp (ngẫu nhiên)
138 ICD-Maternal Mortality (ICD-MM) /aɪ siː diː məˈtɜːnəl mɔːˈtæləti/ ICD-Tử vong mẹ
139 Civil registration systems /ˈsɪvəl ˌrɛdʒɪˈstreɪʃən ˈsɪstəmz/ Hệ thống đăng ký hộ tịch
140 Surveys /ˈsɜːveɪz/ Các cuộc điều tra
141 Censuses /ˈsɛnsəsɪz/ Tổng điều tra
142 Specialized studies /ˈspɛʃəlaɪzd ˈstʌdiz/ Nghiên cứu chuyên biệt
143 Underreporting /ˌʌndərɪˈpɔːtɪŋ/ Báo cáo thiếu
144 Data accuracy /ˈdeɪtə ˈækjərəsi/ Độ chính xác của dữ liệu
145 Standardized direct measures /ˈstændədaɪzd dɪˈrɛkt ˈmɛʒəz/ Thước đo trực tiếp được tiêu chuẩn hóa
146 Maternal Mortality Estimation Inter-Agency Group (MMEIG) /məˈtɜːnəl mɔːˈtæləti ˌɛstɪˈmeɪʃən ˌɪntərˈeɪdʒənsi ɡruːp/ Nhóm Liên cơ quan Ước tính Tử vong Mẹ
147 Non-governmental organizations /nɒn ˌɡʌvənˈmɛntəl ˌɔːɡənaɪˈzeɪʃənz/ Tổ chức phi chính phủ
148 Denominator data /dɪˈnɒmɪneɪtə ˈdeɪtə/ Dữ liệu mẫu số
149 Maternities /məˈtɜːnətiz/ Ca sinh (bao gồm cả trẻ đẻ sống và thai chết lưu)
150 Millennium Summit /mɪˈlɛniəm ˈsʌmɪt/ Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ
151 Universal access /ˌjuːnɪˈvɜːsəl ˈæksɛs/ Tiếp cận phổ cập
152 United Nations Children’s Fund (UNICEF) /juːˈnaɪtɪd ˈneɪʃənz ˈtʃɪldrənz fʌnd/ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
153 United Nations Population Fund (UNFPA) /juːˈnaɪtɪd ˈneɪʃənz ˌpɒpjʊˈleɪʃən fʌnd/ Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc
154 World Bank Group /wɜːld bæŋk ɡruːp/ Nhóm Ngân hàng Thế giới
155 United Nations Population Division (UNPD) /juːˈnaɪtɪd ˈneɪʃənz ˌpɒpjʊˈleɪʃən dɪˈvɪʒən/ Ban Dân số Liên Hợp Quốc
156 Southern Asia /ˈsʌðən ˈeɪʒə/ Nam Á
157 Lifetime risk /ˈlaɪftaɪm rɪsk/ Nguy cơ trong đời
158 High-income countries /haɪ ˈɪnkʌm ˈkʌntriz/ Nước có thu nhập cao
159 Low-income countries /ləʊ ˈɪnkʌm ˈkʌntriz/ Nước có thu nhập thấp
160 Haemorrhage /ˈhɛmərɪdʒ/ Băng huyết, xuất huyết
161 Hypertensive disorders /ˌhaɪpəˈtɛnsɪv dɪsˈɔːdəz/ Rối loạn tăng huyết áp
162 Unsafe abortion /ʌnˈseɪf əˈbɔːʃən/ Phá thai không an toàn
163 Embolism /ˈɛmbəlɪzəm/ Thuyên tắc
164 Confidential Enquiry into Maternal Deaths /ˌkɒnfɪˈdɛnʃəl ɪnˈkwaɪəri ɪntuː məˈtɜːnəl dɛθs/ Điều tra Kín về Tử vong Mẹ
165 Triennial reports /traɪˈɛniəl rɪˈpɔːts/ Báo cáo ba năm một lần
166 Gold standard /ɡəʊld ˈstændəd/ Tiêu chuẩn vàng
167 Maternity care /məˈtɜːnəti kɛə/ Chăm sóc thai sản
168 Morbidity /mɔːˈbɪdɪti/ Bệnh tật
169 Surveillance data /səˈveɪləns ˈdeɪtə/ Dữ liệu giám sát
170 Triennium /traɪˈɛniəm/ Giai đoạn ba năm
171 Thrombosis /θrɒmˈbəʊsɪs/ Huyết khối
172 Thromboembolism /ˌθrɒmbəʊˈɛmbəlɪzəm/ Thuyên tắc huyết khối
173 Psychiatric causes /ˌsaɪkiˈætrɪk ˈkɔːzɪz/ Nguyên nhân tâm thần
174 Suicides /ˈsuːɪsaɪdz/ Tự tử
175 Pregnancy-related infections /ˈprɛɡnənsi rɪˈleɪtɪd ɪnˈfɛkʃənz/ Nhiễm trùng liên quan đến thai kỳ
176 Amniotic fluid embolism /ˌæmniˈɒtɪk ˈfluːɪd ˈɛmbəlɪzəm/ Thuyên tắc ối
177 Cardiac disease /ˈkɑːdiæk dɪˈziːz/ Bệnh tim
178 Lifestyle-related risk factors /ˈlaɪfstaɪl rɪˈleɪtɪd rɪsk ˈfæktəz/ Yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống
179 Pulmonary thromboembolism /ˈpʌlmənəri ˌθrɒmbəʊˈɛmbəlɪzəm/ Thuyên tắc huyết khối phổi
180 Obstetric haemorrhage /əbˈstɛtrɪk ˈhɛmərɪdʒ/ Băng huyết sản khoa
181 Non-obstetric haemorrhage /nɒn əbˈstɛtrɪk ˈhɛmərɪdʒ/ Băng huyết không do sản khoa
182 Cardiovascular disease /ˌkɑːdiəʊˈvæskjʊlə dɪˈziːz/ Bệnh tim mạch
183 Early pregnancy /ˈɜːli ˈprɛɡnənsi/ Giai đoạn đầu thai kỳ
184 Essential information /ɪˈsɛnʃəl ˌɪnfəˈmeɪʃən/ Thông tin thiết yếu
185 Aetiology /ˌiːtiˈɒlədʒi/ Nguyên nhân học
186 Unexplained /ˌʌnɪkˈspleɪnd/ Không giải thích được
187 Congenital anomaly /kənˈdʒɛnɪtəl əˈnɒməli/ Dị tật bẩm sinh
188 Infection /ɪnˈfɛkʃən/ Nhiễm trùng
189 Neonatal causes /ˌniːəʊˈneɪtəl ˈkɔːzɪz/ Nguyên nhân sơ sinh
190 Confidential Enquiry /ˌkɒnfɪˈdɛnʃəl ɪnˈkwaɪəri/ Điều tra Kín
191 Direct deaths /dɪˈrɛkt dɛθs/ Tử vong trực tiếp
192 Indirect deaths /ˌɪndɪˈrɛkt dɛθs/ Tử vong gián tiếp
193 Women giving birth /ˈwɪmɪn ˈɡɪvɪŋ bɜːθ/ Phụ nữ sinh con
194 Commonest causes /ˈkɒmənɪst ˈkɔːzɪz/ Nguyên nhân phổ biến nhất
195 Professional skills /prəˈfɛʃənəl skɪlz/ Kỹ năng chuyên nghiệp
196 Attitudes /ˈætɪtjuːdz/ Thái độ
197 Sociodemographic factors /ˌsəʊsiəʊˌdɛməˈɡræfɪk ˈfæktəz/ Yếu tố nhân khẩu xã hội
198 Nutrition /njuːˈtrɪʃən/ Dinh dưỡng
199 Health services /hɛlθ ˈsɜːvɪsɪz/ Dịch vụ y tế
200 Cultures /ˈkʌltʃəz/ Các nền văn hóa