Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[Sách Dịch] Sổ tay Thận học Lâm sàng. CHƯƠNG 3. Sinh lý Thận

13 phút đọc

Sổ tay Thận học Lâm sàng – Clinical Handbook of Nephrology
Tác giả: Brown, Robert Stephen, MD. Bản quyền © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Biên dịch và Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng


CHƯƠNG 3. SINH LÝ THẬN
Renal physiology
Robert Stephen Brown; Alexander Morales; Alexander Goldfarb-Rumyantzev
Clinical Handbook of Nephrology, CHAPTER 3, 14-25


3. Sinh lý Thận ¹,²

Thận có nhiều chức năng, bao gồm:

  • Chức năng bài tiết—loại bỏ các “chất thải” phân tử nhỏ ra khỏi cơ thể
  • Duy trì cân bằng điện giải
  • Duy trì cân bằng kiềm-toan
  • Duy trì thể tích và trương lực (áp lực thẩm thấu) phù hợp của cơ thể
  • Chức năng nội tiết—sản xuất erythropoietin, renin, 1,25-dihydroxyvitamin D (calcitriol), và prostaglandin (không được thảo luận ở đây)
  • Tân tạo glucose (không được thảo luận ở đây)

3.1 GIẢI PHẪU THẬN

3.2 GIẢI PHẪU MỘT NEPHRON

Mỗi quả thận có khoảng một triệu nephron với cấu trúc được mô tả đơn giản hóa dưới đây. Các nephron tiếp xúc gần gũi với hệ mạch máu thận vì dòng máu ra từ tiểu động mạch đi của các cầu thận sẽ tưới máu cho các ống thận ở vỏ thận. Các tiểu động mạch này tạo thành các mạch thẳng (vasa recta), là các quai mao mạch đi sâu vào tủy thận liền kề với quai Henle và rất quan trọng để duy trì sự tái hấp thu natri ở nhánh lên dày, cần thiết cho cả việc pha loãng nước tiểu và duy trì nồng độ thẩm thấu ở nhú thận để cô đặc nước tiểu. ¹,²

3.3 SINH LÝ LỌC CẦU THẬN

  • Lưu lượng máu qua thận chiếm khoảng 20% cung lượng tim lúc nghỉ (1-1.2 L/phút).
  • Mức lọc cầu thận (GFR) bình thường khoảng 120 mL/phút hoặc khoảng 170-180 L/ngày.
  • Phân suất lọc, GFR/RPF (lưu lượng huyết tương qua thận), xấp xỉ 20%, nghĩa là khoảng 10% lưu lượng máu qua thận được lọc.
  • GFR được quyết định bởi chênh lệch áp suất qua thành mao mạch cầu thận và màng đáy cầu thận (GBM), tính thấm của GBM (hệ số lọc), và diện tích lọc. ³,⁴
  • Chênh lệch áp suất thúc đẩy quá trình lọc ở cầu thận là tổng của áp suất thủy tĩnh thực (áp suất thủy tĩnh mao mạch cầu thận ~55-60 mmHg trừ đi áp suất thủy tĩnh trong bao Bowman ~15 mmHg, cho ra áp suất thực ~40-45 mmHg) có lợi cho việc lọc, bị chống lại bởi áp suất keo của máu (~30 mmHg). Khi máu đi qua các mao mạch cầu thận, cân bằng áp suất lọc đạt được khi sự mất dịch từ mao mạch làm giảm áp suất thủy tĩnh và tăng áp suất keo, như được trình bày dưới đây. ¹,²

Mức lọc cầu thận có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi áp suất trong cầu thận, chủ yếu được điều chỉnh bằng cách thay đổi trương lực của tiểu động mạch đến và tiểu động mạch đi (ví dụ, ở tiểu động mạch đến, co mạch làm giảm lưu lượng và áp suất trong cầu thận, và giãn mạch làm tăng lưu lượng và áp suất trong cầu thận, trong khi co tiểu động mạch đi sẽ làm tăng áp suất trong cầu thận để duy trì GFR ngay cả khi lưu lượng máu giảm).¹

3.4 TỰ ĐIỀU HÒA GFR

Tự điều hòa GFR là một cơ chế duy trì lưu lượng máu qua thận và GFR tương đối ổn định bất chấp những thay đổi của huyết áp động mạch hệ thống. Cơ chế này thất bại ở huyết áp rất thấp (MAP < 50 mmHg) và rất cao (MAP > 150 mmHg), trong trường hợp đó lưu lượng máu qua thận, và ở mức độ thấp hơn là GFR, sẽ giảm hoặc tăng tương ứng. Các yếu tố tự điều hòa này, một số đã được đề cập ở trên, có xu hướng duy trì GFR ở mức bình thường hoặc gần bình thường trong một phạm vi rộng của huyết áp động mạch. ¹,⁴,⁵

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ