Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Các dị tật bẩm sinh ở phổi – khí – phế quản

50 phút đọc

ĐẠI CƯƠNG.

Các dị tật bẩm sinh ở phổi – khí – phế quản đã được nêu trong y văn thế giới từ lâu. Năm 1812, Meckel đã mô tả một vài trường hợp không có phổi bẩm sinh khi mổ tử thi.  Sau đó, đã có nhiều  công trình nghiên cứu về các dị tật của phổi, khí, phế quản.

Các tác giả:  Jordan (1939), V.I Colexov ( 1960), X . I. A . Doleski (1963) … đã thống nhất phân chia các dị tật của phổi – khí – phế quản theo hình thái phát triển các dị tật bẩm sinh. Các dị tật bảm sinh của phổi-khí-phế quản gồm:

Các dị tật của phổi : thiếu phổi bẩm sinh, thiếu thuỳ phổi bẩm sinh , giảm sản phổi hoặc thuỳ phổi, khí thũng phổi hoặc thuỳ phổi, những bất thường về rãnh liên thuỳ , phổi phụ.

Các dị tật của  khí – phế quản : phình giãn khí – phế quản , túi thừa khí quản và phế quản , rò khí quản – phế quản – thực quản.

Các dị tật của hệ thống mạch máu và bạch huyết của phổi : dị tật của động mạch , tĩnh mạch , bạch mạch , phình thông động – tĩnh  mạch phổi.

Các  khối u  lành tính của phổi, phế quản : u tuyến ( adenoma), u loạn sản ( hamarotoma), u máu (hemangima).

GIẢI PHẪU PHỔI, MÀNG PHỔI, KHÍ, PHẾ QUẢN.

PHÔI THAI HỌC:

Mầm của các cơ quan hô hấp là một rãnh dài nằm ở giữa của thành phía bụng hầu, xuất hiện vào tuần thứ tư của sự phát triển phôi thai. Ống mầm được bao bọc bởi tổ chức nội bì, tổ thức này sau đó phát triển thành lớp biểu mô của cơ quan hô hấp. Phần đầu của ống mầm  phát triển thành thanh quản, tiếp theo là khí quản. Từ phần đuôi của ống, ở hai thành bên mọc ra hai nụ phổi phải và phổi trái. Lúc đầu, hai nụ phổi phát triển cân đối và đối xứng, nhưng tới tuần thứ 6 và thứ 7 của thời kỳ phát triển bào thai thì các phổi bắt đầu được phân chia thành những thùy phổi. Phổi phải được chia thành 3 thùy còn thùy trái được chia thành hai thùy. Sự phát triển của các thành phần cuống phổi được hoàn thành vào tuần thứ sáu của thời kỳ phát triển bào thai.

Đường dẫn khí bao gồm cả các phế quản tận được hình thành. Trong quá trình phát triển, phổi được tạo ra từ phần đuôi, và khi sinh ra, khí quản phân đôi ở vị trí đối diện với đốt sống ngực thứ tư . Khi phổi phát triển sẽ lồi ra hai bên vào khoang lồng ngực để sau này hình thành nên khoang màng phổi. Vào tuần thứ sáu của thời kỳ phát triển bào thai, cung động mạch chủ thứ sáu bên trái sẽ tạo thành động mạch phổi trái và động mạch phổi phải. Mỗi động mạch phổi có liên quan mật thiết với các phế quản gốc và phát triển thành các nhánh đi kèm với những nhánh phế quản tương ứng. Các cặp động mạch và phế quản tương ứng này trước hết đi vào các thùy phổi, rồi sau đó phân nhánh vào các phân thùy và cuối cùng phát triển vào  tổ chức nhu mô phổi.

Khi phổi phát triển, các cặp động mạch và phế quản này nằm ở vị trí trung tâm của mỗi thùy và phân chia nhỏ thành các nhánh theo sự phân chia của tổ chức phổi.

Các tĩnh mạch phổi chính phát triển từ mầm tâm nhĩ còn các tĩnh mạch trong phổi thì được tạo ra từ lớp tổ chức trung mô. Các tĩnh mạch trong phổi sẽ nhận máu từ các tĩnh mạch này sẽ nhận các nhánh màng phổi và  mạng lưới mạch máu phát triển từ đỉnh của cây phế quản.

Khi chúng vòng qua đáy của các phân thùy đi ra phía ngoại vi, các tĩnh mạch trong phổi sẽ tạo thành các tĩnh mạch gian thùy. Các tĩnh mạch này chạy ở trong lớp tổ chức liên kết giữa các thùy phổi riêng biệt. Các tĩnh mạch trong thùy phổi hợp nhất lại thành các tĩnh mạch phân thùy. Các tĩnh mạch phân thuỳ lại hợp nhất lại để tạo thành những tĩnh mạch lớn hơn rồi tạo thành các tĩnh mạch phổi ở gần rốn phổi. Các tĩnh mạch này lại hợp nhất lại để tạo thành các tĩnh mạch phổi trên và tĩnh mạch phổi dưới.

GIẢI PHẪU.

Đặc điểm chung:

Hệ thống hô hấp bao gồm: mũi, đường dẫn khí qua mũi, đường dẫn khí qua mũi-hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và phổi.

Các cơ quan kèm theo bao gồm: lồng ngực, với khung xương và hệ thống cơ tham gia hô hấp, màng phổi, khoang màng phổi và trung thất. Tất cả các cơ quan nói trên đều góp phần quan trọng và việc duy trì chức năng hô hấp một cách bình thường. Nắm vững mối quan hệ giữa  các cấu trúc giải phẫu và những đối  chiếu của các cấu trúc này trên phim chụp X quang lồng ngực là vấn đề hết sức quan trọng đối với thực hành lâm sàng.

Thành ngực và màng phổi:

Thành ngực được bao phủ bởi da và tổ chức dưới da. Ở bên dưới lớp da và tổ chức dưới da có cơ ngực lớn ở phía trước, cơ lưng to và răng trước ở phía sau. Với đường mở ngực trước, cần phải cắt các bó của cơ ngực lớn để có thể bộc lộ được các cơ gian sườn. Đối với đường mở ngực chuẩn theo đường sau bên, cần phải cắt cơ lưng to và sau đó là cơ răng trước .

Theo quan điểm cố gắng bảo tồn tối đa các chức năng cơ học bình thường của thành ngực thì mở ngực theo đường trước thường hợp sinh lý và đỡ đau đớn hơn cho bệnh nhân, tuy nhiên, đường mở ngực sau bên lại có thể cho phép bộc lộ và có thể kiểm soát được các cơ quan trong lồng ngực một cách rõ ràng và dễ dàng hơn.

Có tất cả 12 đôi xương sườn, trong đó có 7 đôi xương sườn “ thật “và 5 đôi xương sườn “giả “. Các xương sườn thật có các khớp sụn sườn trực tiếp với xương ức còn các xương sườn giả thì không có. Các xương sườn thứ 11 và 12 được gọi là các xương sườn di động bởi vì chúng có đầu trước tự do.

Xương ức được chia ra phần cán, phần thân và phần mũi ức. Xương đòn nối khớp với xương ức và với sụn sườn thứ nhất. Đây là những điểm quan trọng về các mối liên hệ về giải phẫu bởi vì sự trật khớp xương đòn ở phía sau có thể gây ra những rối loạn hô hấp, và sau đó có thể gây ra chèn ép khí quản bởi phần đầu của xương đòn.

Các cơ nằm ở các khoang gian sườn là các cơ gian sườn ngoài, cơ gian sườn trong và các cơ ngang ngực. Có cả thẩy 11 khoang gian sườn. Mỗi một khoang gian sườn có một tĩnh mạch, một động mạch và một nhánh thần kinh gian sườn chạy dọc theo bờ dưới của xương sườn. ở phía trước, tất cả các khoang gian sườn đều rộng hơn ở phía sau. Khoang gian sườn rộng nhất là khoang gian sườn thứ ba.

Lá thành màng phổi được chia ra làm 4 phần : phần sườn, phần cổ, phần hoành và phần trung thất.  Phần lá thành màng phổi được giới hạn bởi   các xương sườn, các sụn sườn, và các đốt sống là những chỗ dầy nhất của lá thành màng phổi .

Lá tạng màng phổi bao bọc phổi chặt chẽ và chắc chắn đến nỗi không thể tách nó ra khỏi tổ chức phổi được trong những điều kiện bình  thường.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ